"Mỗi năm mỗi người thêm một tuổi."
Còn nhớ đây là câu mở đầu cho các bài toán tính tuổi hồi tôi học lớp 4, lớp 5. Cứ mỗi mùa xuân sang - một năm mới bắt đầu, người ta lại chúc nhau thêm tuổi mới, già dặn hơn, chín chắn hơn, thành công hơn.
Theo một cách tính khác, một năm học bắt đầu vào mùa thu và kết thúc vào mùa hạ. Thế nên với đám đi học, mùa hạ là mùa của nghỉ ngơi, cũng là mùa của chia ly, có thể là tạm thời hay vĩnh viễn, là lúc mỗi cá nhân đều sẽ trưởng thành hơn, dù chẳng ai có thêm tuổi nào cả.
6 năm làm sinh viên Y sẽ có ngần ấy mùa hạ với đủ các sắc thái khác nhau. Thế nhưng luôn có một mùa khó quên nhất trong đời bất cứ ai, ấy là mùa hạ thứ 6. Năm ấy, năm cuối cùng của đời sinh viên Y, là năm tốt nghiệp, là lúc phải có những tính toán thật sự nghiêm túc cho tương lai, là khi phải chia tay những người bạn đã bên nhau 12 học kì không biết bao giờ mới hội ngộ. Và năm ấy diễn ra kì thi Nội trú.
Đa phần sinh viên Y, đến mùa hạ năm thứ 5 đều tiếc nuối mà than thở chơi nốt mùa hạ cuối cùng đời sinh viên. Tôi thì không thích nghĩ thế cho lắm. Đến năm cuối, bạn đã tốt nghiệp, nhưng bằng bác sĩ thì đến tận năm học sau mới có. Và kẻ nào còn chưa một ngày đi làm, chưa thực sự khám chữa bệnh, kẻ ấy hãy còn là sinh viên. So thế thì rõ ràng những ai ôn thi sẽ có mùa hạ thứ 6 dài hơn so với những người đi làm ngay. Chẳng sao cả, xét ra thì những ai ôn thi nghĩa là vẫn mong mình sẽ được mài đũng quần thêm 3 năm nữa cơ mà!
Năm nay là năm diễn ra kì thi tuyển Bác sỹ Nội trú khoá 40, cũng có nhiều điều đáng nói:
Là khoá đánh dấu tròn 10 năm tổ chức thi theo 2 hệ Ngoại - Sản và Nội - Nhi. Từ khoá 30 trở về trước, đăng ký chuyên khoa nào thì môn chuyên ngành sẽ thi đúng chuyên khoa đó (Ngoại thi Ngoại, Sản thi Sản, Mắt thi Mắt...). Còn từ khoá 41 trở đi lại có xu hướng sẽ thi đề chung tất cả các chuyên khoa.
Là khoá đầu tiên thi trắc nghiệm trừ các môn chuyên ngành. Và có lẽ sẽ là khoá cuối cùng còn thi chuyên ngành bằng tự luận.
Là khoá đầu tiên và có thể sẽ là cuối cùng học 8 thi 8. Các khoá sau dự kiến học 10 thi 10.
...Và là khoá đánh dấu tròn 5 năm ngày tôi thi Nội trú.
Thực ra ban đầu tôi không mặn mà lắm với việc trông thi. Là bác sĩ trẻ ở khoa, hàng tá việc luôn chờ đón mình, và dù có lý do trông thi chăng nữa thì núi việc ấy cũng chẳng vơi đi được chút nào. Tuy vậy, ngẫm lại thì cũng có chút trùng hợp, hay là sự sắp đặt của số phận, khi mà sau đúng 5 năm, tôi lại được nhìn thấy hình ảnh của mình nơi lớp đàn em?
Mùa hạ năm ấy chắc chắn là mùa hạ chán chường nhất và nóng nhất trong đời tôi. Thay vì hẹn hò, đi chơi thì lại phải gò ép mình theo một lịch làm việc khô khan, cứng nhắc suốt cả năm trời. Thay vì nói với bạn bè những chuyện trên trời dưới đất thì lại phải trao đổi với nhau những mẩu thông tin vỉa hè, thậm chí đôi khi có vẻ chẳng liên quan gì đến kì thi kia…Có nhiều chuyện đã xảy ra trong suốt thời gian ấy, vui buồn đủ cả, chỉ những kẻ trong cuộc mới có thể hiểu nhau. Đến giờ nghĩ lại, vẫn cảm thấy là một quãng thời gian đáng quý.
Thi Nội trú thì có nhiều chuyện để nói, nhưng có một đặc điểm không thể thấy ở bất kì cuộc thi nào khác, ấy là thí sinh vừa đọc đề đã cắm cúi viết lia viết lịa, chỉ ngẩng mặt lên để xin giấy thi, bởi phải viết liên tục không suy nghĩ nhiều mới đủ thời gian làm bài. Lúc ấy giống như có ai đó nhập vào khiến bạn viết như lên đồng vậy. Đến nỗi có một giám thị khác đã hỏi tôi: "Hoá ra ngày xưa trông bọn mình như thế à?". Phải, còn nhớ ngày ấy tôi cũng cắm cúi viết, đến khi đặt dấu chấm cuối cùng cũng là lúc thời gian làm bài chỉ còn gần 5 phút. Cũng bởi lý do này nên trông thi Nội trú nhìn chung là sướng, ngoài việc phải đưa giấy liên tục ra thì chẳng cần nhắc một câu nào về kỷ luật phòng thi.
Năm ấy, ngày cuối cùng trước khi thi trời mưa nhỏ. Bọn tôi đến trường như một thói quen, và cũng là để gặp nhau trước khi bước vào cuộc chiến sinh tử. Hôm ấy bị đuổi về sớm để niêm phong giảng đường. Lấy xe ra, tôi lao về khu Hồ Đắc Di và hét to với những người bạn của mình: "Thi tốt nhớ!". Một vài người cũng hét to lên với tôi: "Thi tốt nhớ!". Tôi và họ đều đỗ. 5 năm sau, vẫn là cuộc thi ấy, và gã thi sinh năm nào đã trở thành giám thị. Nhưng điều muốn nói với tất cả những người đi thi vẫn là như vậy, "Thi tốt nhớ!", và tất nhiên, không thể nói thì thầm được!
Khi tiếng trống hết giờ của buổi thi cuối cùng vang lên, có chút hẫng khi nhận ra mình đã sắp quay trở lại với guồng quay hối hả thường nhật. Kì thi là của các em, nhưng nó giúp tôi nhớ lại một thời máu lửa của mình, nhớ lại mình đã hạnh phúc biết bao vì đã ôn thi, đã đỗ Nội trú. Nó cũng thổi một luồng gió mới vào cuộc sống người lớn có vẻ hơi chán của tôi.
Ngồi ngoài hành lang, nhìn lên bầu trời xanh và trong văn vắt, chợt nhớ lại những câu hát một thời đã thành ám ảnh với mình:
… When heavens divide
I will see the choices within my hands
How can we ever protect and fight with our tiny soul
Let me shine like the sun through the doubts and fear
Do you feel the storm approach as the end draws near
When heavens divide
Time will come to softly lay me down
Then I can see a face that I long to see
And for you, only you I would give anything
Leaving a trace for love to find a way
When heavens divide
I will dive into the fire
Spilling the blood of my desire
The very last time
My name scorched into the sky…
Dù sao thì…biết đâu đấy, không nói trước điều gì được.

Giao thừa.
Khi mọi người ở khắp nơi đang đếm ngược đến khoảnh khắc chuyển giao 2 năm âm lịch, chợt nhận ra mình vẫn dửng dưng với thời điểm này, nghĩa là dù 23h59’, hay 0h00’, hay 0h01’ cũng đều như vậy, vẫn nằm thở đều đều và nghĩ ngợi lung tung. Không hiểu những người khác, những người tôi nhìn thấy đi sắm Tết trên đường mấy ngày trước, tâm trạng họ thế nào nhỉ?
Mặc dù hồi nhỏ cũng từng trải qua cái cảm giác “trông bánh chưng chờ trời sang” rồi ngủ gật lúc nào không biết, nhưng có lẽ tôi chưa bao giờ thật sự hiểu hết ý nghĩa của Tết Âm lịch. Với một kẻ sinh ra và lớn lên nơi thành thị như tôi, chưa từng phải cấy lúa cày ruộng một ngày nào, thì một dịp lễ gắn liền với nghề nông như thế này quả là khó mà cảm nhận cho thấu đáo. Nhiều người cứ hay than rằng Tết bây giờ chán, tôi nghĩ có lẽ cũng ở hoàn cảnh giống mình mà thôi.
Trên TV chiếu cảnh bắn pháo hoa ngày Tết. Hồi nhỏ, lần nào đi xem bắn pháo hoa cũng thật thích, nhưng thích hơn có lẽ là tự tay mình được cầm một cây pháo hoa bắn lên trời (hồi ấy chưa có lệnh cấm pháo, và ngoài đường nhan nhản các cây pháo hoa nhỏ). Lớn lên, tôi ít có hứng thú với kiểu trình diễn này, và sau khi được xem tận mắt Cuộc thi Pháo hoa Quốc tế ở Đà Nẵng thì sự khó tính của tôi lại càng được nâng lên một mức cao hơn nữa.
Nhắc đến Đà Nẵng, chợt nhớ đến bác Thanh. Tôi không liên quan gì đến Đà Nẵng, ở khía cạnh gốc gác hay hành chính, nhưng ấn tượng về thành phố này tuyệt vời đến nỗi lần đầu tiên sau 26 năm chung thuỷ với Hà Nội, tôi chợt có ý định chuyển đến một nơi khác sinh sống. Cho đến hiện giờ, bác Thanh vẫn được coi như người kiến trúc sư trưởng biến Đà Nẵng từ một thành phố nhếch nhác (đúng từ báo chí dùng) thành một đô thị kiểu mẫu. Tất nhiên, ngoài những cái được, ông bị chỉ trích trong nhiều chuyện. Tất cả tôi đều đã tìm hiểu. Cá nhân mà nói, việc hi sinh lợi ích một nhóm người khi làm cách mạng là điều khó tránh khỏi. Chưa bao giờ, chưa ở đâu tồn tại cái gọi là công bằng tuyệt đối, lợi ích cho tất cả các bên cả. Vấn đề là bạn chọn bên nào và bị ảnh hưởng ra sao.Nhìn Đà Nẵng ngày hôm nay, tôi thuộc về nhóm ủng hộ ông.
Chuyện bác Thanh mất không quá bất ngờ với tôi. Thế nhưng khi đọc bài báo tường thuật việc an táng ông, cảm giác hụt hẫng, hoang mang chợt xuất hiện. Dù nằm trong quan tài, dù không còn thuộc về thế giới này thì trong tâm thức của tôi, người đã khuất như vẫn còn một mối liên kết vô hình nào đó với chúng ta. Và từng nắm đất người ta đắp lên như từng viên gạch tạo nên bức tường cắt đứt nốt mối liên kết cuối cùng ấy. Có thể bạn cho rằng người đã khuất vẫn còn trong tâm trí người ở lại, nhưng đến cuối cùng cũng chẳng thể nhìn thấy mặt nhau lần nữa, chẳng thể chạm vào nhau lần nữa. Như vậy đấy!
Cuộc sống thật ngắn ngủi, cuối cùng thì mỗi chúng ta vẫn phải tự chọn đường cho riêng mình vậy. Chẳng ai quay đầu lại được, chỉ có thể tiếp tục đi về phía trước.

Ngày còn nhỏ, Sài Gòn là công viên Đầm Sen với những mô hình khủng long, một hình thức ăn theo bộ film nổi tiếng Công viên kỷ Jura của Steven Spileberg. Mặc dù chẳng thể sống động như trong film thì những mô hình này đã quá đỗi hấp dẫn với một đứa trẻ mới lên 9, lên 10 là tôi khi ấy.
Lớn lên, Sài Gòn lại là nơi lưu giữ những di tích của nền văn hoá vốn thuộc về một thể chế đã từng tồn tại trên đất nước tôi. Bỏ qua bất đồng về mặt chính trị, không thể phủ nhận nền văn hoá ấy đã có những thành tựu nhất định, khiến một kẻ hậu sinh như tôi không thể không ngưỡng mộ và mong muốn tìm hiểu sâu hơn.
Cuộc sống cứ thế tiếp diễn, và thời gian trôi thật nhanh, để rồi khi lần đầu tiên đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tôi chợt nhận ra mong muốn được vào Sài Gòn của mình lưu giữ cũng đã 20 năm rồi.
Tôi ở tại một khách sạn nhỏ trên đường Võ Văn Tần, cách Nhà thờ Đức Bà tầm 10 phút đi bộ. Đây cũng là điểm đến ưa thích của tôi, vừa vì không cần đi quá xa tôi cũng tới được vài địa điểm nổi bật của Sài Gòn: Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố, dinh Độc Lập, hồ Con Rùa..., vừa vì ở đây có cafe bệt Hàn Thuyên, đặc trưng của Sài Gòn.
Cafe bệt nghĩa là sau khi bạn dừng chân và an toạ trên lề đường hay ghế đá, sẽ có một vài người với thùng xốp nhỏ, hay đôi quang gánh tới và hỏi bạn muốn uống gì. Lấy đồ, trả tiền xong, bạn sẽ nhận lại ly cafe hay nước giải khát mà nhâm nhi tán gẫu với bạn bè, hay ngồi đó ngắm dòng người ngược xuôi mà ngẫm cái sự đời. Tự do và thoải mái hơn trà chanh Nhà thờ hay ngồi ăn gánh hàng rong ngoài Hà Nội nhiều.
Ngoài cafe bệt, tôi còn được dẫn đi hai nơi khác, đều nằm ở tầng thượng khu chung cư cũ, trong đó có một khu hình như được xây từ trước năm 1975. Quán chỉ là một căn phòng, hai mặt có cửa lớn toàn kính nhìn ra quảng trường rộng, làm tôi liên tưởng đến căn gác của mấy tay nghệ sĩ trong các film Âu Mỹ. Sáng sáng thức dậy, nhâm nhi cafe và ngắm đường phố ở đây thì thích phải biết. Lại là một mơ ước có vẻ hơi viển vông khác!
Không thuê được xe máy nên phương tiện di chuyển chính của tôi, ngoài hai chân ra là taxi. Thế nên khó tận hưởng cái cảm giác lang thang nơi này chốn nọ, chui vào hang cùng ngõ hẻm mà khám phá thành phố. Một điều may mắn là lần đi này tôi không bị tắc đường một lần nào, dù cũng đi vào giờ cao điểm và ở khu trung tâm. Lạ nhất là mặc dù đường phố đông chẳng kém gì Hà Nội, nhưng không có cảm giác ngột ngạt khó chịu như thủ đô. Tôi và anh bạn có thử ngồi lý giải, nhưng có lẽ để biết được chính xác thì phải sống lâu hơn ở đây.
Chuyến đi bị giới hạn khá nhiều vì công việc nên tôi vẫn chưa thể tới thăm nhiều nơi như mong muốn. Có lẽ lần này chỉ nên xem như lời chào tới Sài Gòn của một gã phương Bắc. Vẫn còn quá nhiều điều tôi muốn làm ở đây. Có lẽ hẹn lần sau, chắc chắn sẽ không đến 20 năm đâu, Sài Gòn ạ!

Con trai à!
Bố không biết khi đọc những dòng này thì con bao nhiêu tuổi, mà có khi con còn chả buồn vào blog của ông già ấy chứ :(
Con đến Trái Đất này vào đúng năm thứ 10 bố mẹ yêu nhau. Đẹp đấy chứ nhỉ?
Nhưng đấy chỉ là một tình tiết phụ nho nhỏ tô vẽ thêm chút màu sắc cho cuộc sống của chúng ta mà thôi. Dù thế nào đi chăng nữa, bố muốn con biết rằng bố rất yêu con. Nhân tiện, nếu con có vào blog của bố thì khi đọc đến đây chắc con cũng đủ lớn rồi. Còn thời điểm bài viết này ra đời, con đang nằm ọ ẹ và múa máy tay chân theo cách không thể dễ thương hơn.
À, bố cũng xin lỗi vì đã không viết bài nào vào ngày sinh của con. Hôm ấy quá nhiều thứ cảm xúc ùa đến với bố, đến mức bố chỉ kịp update được lên Facebook của mình mà thôi (Nếu vào thời con Facebook không còn tồn tại thì cứ hiểu đơn giản nó là một mạng xã hội nơi người ta ném các thứ cảm xúc của mình lên để được người khác chia sẻ, kiểu như con khóc thì bố mẹ dỗ ý mà). Đêm đó có một chuyện thú vị lắm, nhưng mà nó liên quan đến mẹ nên bố không viết lên đây đâu. Nếu con muốn bố sẽ kể cho nghe (tất nhiên nhớ xin phép mẹ trước).
Dù sao thì...mừng con đầy tháng. Mong con sẽ chóng lớn và khoẻ mạnh như gấu (cái này là lời chúc của ông ngoại)! Yêu con nhiều lắm!
P/S: Bài này bố viết khi đang làm giám thị biên giữa lúc trời nóng nực và ngoài hành lang thì chỉ trông chờ vào gió trời, vốn hiếm hoi vào mùa hè. Bố đến muộn vì còn phải an ủi mẹ :( Ngày đầy tháng con cũng quá trời cảm xúc nên bố chỉ viết được thế này thôi. May mà còn biết đường đặt chỗ trước trên blog cho đúng ngày :)
Đi biển cũng vài lần nhưng mãi tới bây giờ mới được ngắm bình minh nơi đây.
Lúc tới bờ biển, trời còn tối, thế mà đã thấy nhiều người đứng tập thể dục, xa xa đã có thuyền bè đi lại. Hôm ấy trời nhiều mây, chẳng có cảnh mặt trời nhô lên từ mặt nước, chỉ thấy một màu hồng xuất hiện và lan khắp bầu trời, xua đi những đám mây đen còn đọng lại từ đêm qua.
Tôi chợt thấy vật gì đó xa xăm như đang bay dọc đường chân trời. Máy bay có vẻ không phải, thuyền bè sao lơ lửng trên không? Mãi đến khi trời sáng mới hiểu. Hoá ra vì thiếu ánh sáng, vùng biển phía xa ấy tối đen, hoà lẫn với màu trời thành một vùng không gian hỗn độn chẳng còn trời và biển, làm con thuyền giống như đang bay vậy.
Hồi nhỏ, ảnh hưởng bởi văn học, tôi có lần mơ được làm thuỷ thủ, sống cuộc đời lênh đênh nay đây mai đó, được khám phá những vùng đất mới, được chiến đấu với thuỷ quái, với lũ bất lương. Lớn lên mới biết không phải đơn giản cứ hứng lên là đi được như vậy, bởi có đủ thứ kém lãng mạn hơn cần làm nếu muốn thành thuỷ thủ, mà đời thuỷ thủ cũng chẳng phải đầy sắc hồng như truyện (về vụ này nếu ai còn lăn tăn, mời xem Captain Phillips).
Và vì lớn rồi nên hiểu rằng biển cả cuộc đời cũng đầy giông bão hiểm nguy như biển cả thiên nhiên, và mỗi người lại là thuyền trưởng tự lèo lái cuộc đời chính mình. Bao nhiêu người sẽ chọn cuộc sống an nhàn nơi cái vùng nào đó, còn bao nhiêu người vẫn giữ được lòng mong muốn khám phá như trẻ thơ? Có mấy ai dám đi tới trong tình trạng dò dẫm, chẳng biết mình đang đi đâu, và liệu có kẻ nào tự biết rằng đang tiến về nơi tăm tối, không có lấy chút ánh sáng tương lai nhưng vẫn làm không? Tất cả nằm nơi trái tim người thuyền trưởng.
Nghe tiếng sóng vỗ rì rào, cảm nhận những cơn gió mặn mòi lồng lộng, chợt thấy lòng bình yên, thèm được nằm xuống ngủ thật say giữa đất trời này, mặc kệ phong ba bão táp nơi xa. Nỗi buồn trong lòng, cũng nhẹ hơn, nhưng lại thấm hơn.
Sóng biển cứ nối tiếp nhau xô bờ tung bọt trắng xoá như cuộc sống tiếp diễn muôn đời. Vào bờ rồi lại kéo nhau ra, có phải là đã làm việc vô ích không? Cuộc đời ta chỉ là khoảnh khắc giữa thiên thu vô tận, sao bị ràng buộc nhiều đến thế?
Chợt muốn được lênh đênh. Lần này, là để tới nơi chẳng còn ai biết mình.

Nhất sĩ nhì nông…
Từ xưa, dân tôi đã đặt trí thức lên hàng đầu trong 4 nhóm: sĩ, nông, công, thương. Khoan bàn đến chuyện nghề nào cao quý, hình ảnh những anh học trò chăm chỉ, những người thầy đạo mạo hay những ông quan oai vệ rõ ràng làm người ta thấy sự nhàn nhã, thích thú hơn nhiều so với sự vất vả của các nhóm còn lại. Mặc dù còn có 2 câu sau:
…Hết gạo chạy rông
Nhất nông nhì sĩ.
thì có lẽ mang tính châm chọc hơn là suy nghĩ thật sự.
Vậy nên từ xưa, dân tôi đã muốn thay thời đổi vận con cái mình bằng cách cho ăn học tử tế, mong con sẽ thành đạt nhờ đường học vấn. Đến giờ vẫn vậy. Chẳng thế mà hàng năm vẫn có bao sĩ tử đăng ký thi đại học, bao kẻ nuôi mộng ra nước ngoài.
Cá nhân, tôi vẫn cho rằng nhóm đi du học, ở một chừng mực nào đó, sẽ hiểu biết hơn kẻ ở nhà. Dù sao thì đi nhiều, tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, nhiều nguồn kiến thức hơn, hẳn sẽ mở mang đầu óc hơn. Thế mà hoá ra tôi lại nhầm.
Năm vừa rồi có hai vụ tranh cãi lùm xùm mà nhân vật chính đều là dân du học cả.
Vụ thứ nhất, kém nổi tiếng hơn vì nó giới hạn chủ yếu trong giới dịch giả. Cái sự chuyển ngữ sai thì gần như ở nước nào cũng gặp. Lần này lùm xùm vì kẻ làm sai là một dịch giả được coi là có uy tín, lại là sếp ở một công ty lớn chuyên về sách. Thực ra theo một vài người làm xuất bản thì vị này bị trả đũa vì hồi mới về nước có đăng vài bài bình luận chê bai người khác. Để khách quan, tôi có tìm đọc các bài viết của vị này cũng như các bài ném đá của nhóm đối lập. Thật bất ngờ, tất cả các bài viết của hai bên ngoài việc chỉ ra các lỗi về chuyên môn, còn rất thoải mái trong việc đả kích nạn nhân. Điều đáng nói là tác giả của các bài viết đều đọc thông viết thạo ngoại ngữ, và ngoài một vài người tôi biết ra, số còn lại theo suy đoán cũng đều đã hoặc đang sống ở nước ngoài.
Vụ thứ hai, nổi hơn, quay quanh cuốn sách về du lịch của một cô gái. Chưa nói đến chuyện trung thực hay không ở đây, điều nực cười là có một anh du học nơi Mẽo về, lên báo tuyên bố rất hùng hồn, cuối cùng lại có cách hành động trái ngược. Càng về sau người ta lại thấy càng nhiều những chỗ anh này đuối lý hoặc chán nản đến mực quay ra mạt sát, hạ thấp người tranh luận với mình.
Hai trường hợp này khiến tôi chợt nghĩ, hình như du học giúp cho họ có cái vỏ bọc đẹp hơn chứ chẳng làm thay đổi gì bản chất con người cả, giống kiểu dù mang hiệu gì thì mỳ tôm vẫn có acid oxalic vậy.
Hay là thực ra, việc xem xét chuyên môn, bao gồm luôn cả việc xem xét con người? Chẳng thế mà xử án vẫn có cái tình tiết giảm nhẹ là “nhân thân tốt” đó thôi?Nhớ lúc xem “Sự im lặng của bầy cừu”, Clarice Starling đến xin ý kiến của Hannibal Lecter để phá án. Tư cách con người có liên quan gì ở đây chăng?
Tất nhiên, câu nói “ở đâu cũng có người này người nọ” vẫn đúng, nhưng cứ thấy buồn buồn. Hàng ngày vẫn phải chứng kiến quá nhiều chuyện kiểu như thế này quanh mình…
Không hiểu những người từng đọc “Trại súc vật” của George Orwell có cùng suy nghĩ không, nhưng với tôi, hình ảnh con lừa Benjamin ám chỉ giới trí thức nói chung, những kẻ thấy hiểu thời cuộc nhưng chẳng thể, và cũng chẳng dám làm gì để đổi thay vận mệnh của mình và người khác.
Với nhau là thế, và với thời đại là thế… Ôi trí thức ơi!
Lâu lắm rồi mới dùng bút mực...
Năm 1991, tôi bắt đầu cuộc đời học sinh của mình. Không rõ trẻ con bây giờ thế nào, hồi ấy học sinh cấp I phải dùng bút máy và viết bằng mực tím, còn mực xanh là cho cấp II trở lên. Cho đến khi bài viết này ra đời tôi vẫn không biết thật ra có cái quy định nào yêu cầu như thế không, nhưng rõ ràng là áo trắng và mực tím đã trở thành hai biểu tượng của tuổi học trò, đến mức có hẳn một tờ báo dành cho thanh thiếu niên mang tên Mực Tím, còn thời học sinh thì gọi là thời áo trắng.
Cây bút đầu tiên của tôi (giờ thì có trời mới biết hiệu gì) đại khái có vỏ nhựa, ngòi na ná như của bút Hồng Hà bây giờ. Nét chữ khá to nên khi viết dễ bị lem nhem. Với nó, bài chính tả của tôi chưa bao giờ lên đến điểm giỏi, cố lắm cũng chỉ ở mức khá.
Có lần mẹ hỏi tại sao không bao giờ được 10 điểm chính tả, tôi nhớ đến đứa bạn cùng lớp (cũng quên tên luôn...) có cây Kim Tinh nhìn tròn trịa, nhã nhặn chứ không thô như cây của mình, nét bút thì mảnh mai. Bài viết của thằng này trông rất sạch, mà cũng hay được điểm cao. Nghe trình bày, mẹ chỉ hỏi nếu mua bút Kim Tinh thì liệu có chắc chắn tôi sẽ được điểm cao không. Tất nhiên ông con khẳng định một cách đầy tự tin. Thế là hôm sau, tôi đã có thêm một cây bút nữa.
Hồi ấy một cây Kim Tinh giá 5.000 đồng. Chiếc của tôi là loại nhỏ, dài cỡ 10cm gì đó, thân bằng nhựa màu nâu, nắp cũng bằng nhựa, phủ một lớp mạ màu vàng. Lúc mới mua về, bố tháo từng phần của bút ra rồi ngâm trong nước xà phòng cho hết dầu. Về sau, những khi tháo tung bút ra để ngâm, để sửa đều là lấy kinh nghiệm từ lần đầu tiên này.
Ngâm đủ thời gian, vẩy khô, lau sạch, lắp lại, cắm đầu bút vào lọ và bắt đầu bóp bình mực cao su. Cứ mỗi nhát bóp, niềm vui của tôi lại trào dâng theo từng giọt mực được bơm vào. Đầy bình, đóng thân bút, viết thử. Từng nét chữ thanh mảnh hiện ra trên giấy. Hôm ấy, đống bài tập về nhà được hoàn thành sớm hơn dự kiến với sự hăng say, miệt mài và đầy vui thích . Sau này tôi còn trải qua rất nhiều lần thay bút khác, nhưng chưa bao giờ việc viết thử lại đem đến cho tôi sự sung sướng như lần đó.
Bài chính tả tiếp theo, tôi được 10. Kim Tinh trở thành cây bút duy nhất tôi sử dụng trong suốt một thời gian dài. Môn chính tả thì lúc cao lúc thấp, nhưng xét ra vẫn là có cải thiện so với trước.
Con trai, tính vốn hiếu động và bất cẩn, dù rất cố gắng thì vẫn có những lúc không tránh khỏi làm rơi bút, và một lần như vậy, đầu bút xuất hiện vết nứt, mực cứ theo đó trào ra, còn lòng tôi như bị dao cắt mà chẳng biết làm thế nào, đành kiếm cây khác mà dùng.
Sau này tôi còn được thử qua rất nhiều loại bút khác, đa phần là của Việt Nam và Trung Quốc, thậm chí có cả bút Kim Tinh các cỡ, nhưng không chiếc nào đem lại được cảm giác như cây Kim Tinh đầu tiên ấy. Không rõ về sau chất lượng bút kém dần đi hay do bị cảm xúc chi phối nên thấy vậy. Dần dần tôi chuyển sang dùng bút bi, vừa sạch sẽ, vừa tiện lợi hơn, nhưng ký ức về một thời tay lúc nào cũng lem nhem màu tím, thỉnh thoảng phải bứt sợi tóc để tách hai lưỡi của ngòi bút khi nét không đều, một thời chiếc áo trắng tinh mới mặc đã dính mực, còn vẩy bút là một chiêu mỗi khi trêu đùa nhau của đám con trai vẫn luôn còn đó, và dù hồi ấy nó khiến cho các tác giả, nạn nhân và các bà mẹ chịu phiền phức thế nào chăng nữa, thì khi nhìn lại, vẫn là những kỷ niệm đẹp của thời áo trắng.
...
Lang thang xem các mẫu đồng hồ, tự nhiên thấy thông tin về các loại bút, bao nhiêu cảm xúc chợt ùa về. Không nén được cơn thèm...Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Chiều mưa...
Chợt thèm một cốc cacao trứng. Là thèm món đồ uống ưa thích đã lâu rồi chưa được nếm lại, hay thèm cảm giác thanh thản mỗi khi uống nhỉ?
5h chiều, vẫn cố ra L'étage làm một cốc. Chả gọi được ai, thôi thì uống một mình cũng có sao. Vẫn cái ban công nho nhỏ nhìn ra hồ Gươm ấy, vẫn cô chủ quán ấy, mấy tháng mà cứ như lâu lắm rồi mới quay lại vậy. Ở Hà Nội mình biết 3 nơi bán cacao trứng ngon, nhưng vẫn thích ngồi ở đây nhất, vừa vì đẹp, vừa vì có thể yên tĩnh một mình khi cần.
Mang theo Hoàng tử bé, nhưng đọc được mấy trang giới thiệu lại gấp sách vào. Saint - Exupéry viết cuốn này khi ông không được bay theo đúng nghĩa đen, và có lẽ là cả nghĩa bóng. Giọng văn cứ man mác buồn. Ngẫm lại thấy có vẻ cũng giống giống mình, cũng đang lúc không được bay, theo đúng cả hai nghĩa.
Lan man lại chợt nghĩ đến Sucker Punch. Film này muốn review lâu lắm rồi mà vẫn chưa bắt đầu, vì chẳng biết viết thế nào cho hay cả. Babydoll, với trí tưởng tượng tuyệt vời của mình, đã sáng tạo ra cả một thế giới mới, cốt để vượt qua nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần. Cô là người bình thường bị tống vào trại thương điên, trong khi những kẻ điên loạn, mù quáng thì lại ở ngoài. Mình, có lẽ trí tưởng tượng cũng không đến nỗi nào, nhưng chẳng thể ở lì trong ấy được. Thế nên tốt nhất là khỏi tưởng tượng cho mất công thức dậy.
Uống ngụm cuối cùng. Nhẹ lòng đôi chút, phần vì được thưởng thức thứ đồ uống yêu thích, phần vì chụp được vài kiểu ảnh, mà cũng có lẽ còn do tạm thoát khỏi không khí ngột ngạt dạo gần đây.
Bao giờ sẽ lại được bay?

"Chú rể vào với cô dâu đi nào!"
Lúc đã khoác lên mình bộ vest đắt tiền của chú rể và nhìn nàng trong bộ váy cô dâu từ phía sau, tôi vẫn cảm thấy mọi chuyện thật đơn giản và nhẹ nhàng. Chỉ đến khi ở cạnh nhau, nhìn vào khuôn mặt có phần hơi lạ lẫm vì trang điểm kia (bình thường nàng không bao giờ trang điểm, mà tôi cũng thích khuôn mặt tự nhiên của nàng hơn), nhận ra sự trông đợi tràn đầy trong ánh mắt kia, sự hoảng hốt chợt như một cơn sóng lớn ập đến xô đổ tất cả những tự tin, quyết tâm của tôi trước đó.
Tôi vốn rất thích tự do nên cực kỳ không muốn bị phụ thuộc vào bất cứ điều gì. Vì thế từ trước đến nay tôi luôn cố tìm cách tự xoay xở với những nhu cầu của mình, dù là trong hay ngoài khả năng chăng nữa. Mặc dù vậy, đa phần những lần tôi tự xoay xở xong thì cũng là lúc tiền bạc cho những nhu cầu thiết yếu như ăn mặc, đi lại...cạn kiệt, và tôi lại tìm đến nguồn tài trợ không hoàn lại nào đó, mà đa phần là từ bố mẹ.
Lần này thì khác. Với bản tính của mình, tôi quyết tâm cưới nàng, đi ngược lại những mong muốn của hai đấng sinh thành. Thế nghĩa là từ giờ tôi sẽ phải lo cho những nhu cầu nhỏ nhặt nhưng cơ bản trước, không phải chỉ cho mình mà còn cho cả nàng, sau đó mới đến những thứ giúp tôi thanh thản về đầu óc, nếu may mắn còn đủ tiền cho chúng.
Nhìn vào thực tế mà nói, do đặc thù nghề nghiệp, mặc cho các bạn tôi kẻ thì sắp thành tiến sĩ, người thì đầu tư chỗ này chỗ nọ, còn không thì cũng đã yên bề gia thất, tôi vẫn miệt mài thân phận kẻ đi học, mong rằng chuyên môn sẽ nâng cao, và kéo theo đó là công việc ổn định tại chính nơi tôi đang theo học, với mức thu nhập đủ sống. Ấy là viễn cảnh thường được chúng tôi vẽ ra, với tấm gương nhãn tiền là các bậc tiền bối khoá trên, mặc dù đôi khi vẫn có những trường hợp cá biệt. Còn hiện tại, tôi vẫn đơn thuần là kẻ đi học, chưa công ăn việc làm, hàng tháng thu nhập đủ sống cho mình mình.
Thế mà giờ đây tôi sẽ phải cáng đáng cho không chỉ mình tôi, mà cả hai người.
Nàng bảo nàng chấp nhận sống khổ, chỉ cần ở cạnh tôi là đủ. Nhưng để cho người phụ nữ của mình khổ thì tốt nhất đừng làm đàn ông nữa.
Trong cơn hoảng hốt ấy, ánh mắt của nàng chợt làm ngọn lửa đang leo lét trong tôi bùng cháy dữ dội, giống như kẻ sắp chết đuối chợt tìm lại được bản năng bơi lội của mình, chẳng cần đến bất kỳ cái cọc nào cả. Tôi đã hứa sẽ ở bên nàng, bảo vệ nàng cả đời, khó khăn là cỏn con cũng được, mà là núi cũng được, có gì khác nhau lắm đâu? Việc của tôi không phải là lo lắng, đơn giản là tìm cách vượt qua nó. Có lần một đàn anh của tôi, cũng đồng thời là một phẫu thuật viên rất giỏi, đã nói thế này: "Mình là phẫu thuật viên mà em, gì mình chả làm được". Phải, gì tôi cũng làm được, chỉ cần người phụ nữ của tôi hạnh phúc. Giữa cơn bão này, nói suông chẳng thể làm được gì, nhưng hoảng hốt cũng không phải là cách để vượt qua. Tôi hành động! Mà việc đầu tiên là hoàn thành công việc tôi cần tiến hành ngày hôm nay, ấy là chụp ảnh cưới với nàng sao cho thật đẹp.
P/S: Thật tình cờ và thật bất ngờ, do một thứ duyên quái đản nào đó, người chụp ảnh cưới cho tôi hôm nay lại mang một chiếc Rolleiflex 2.8F đi. Từ ngày bắt đầu chụp ảnh đến giờ, tôi vẫn mong có một ngày nào đó ảnh cưới của mình sẽ được chụp bằng máy Rolleiflex. Chưa kịp nói với ai thì đã đi chụp ảnh cưới, mà cuối cùng lại cũng có Rollei tham gia. May mắn chăng?
Mẹ tôi là một người phụ nữ bình thường như bao người khác, nghĩa là cũng dễ cuốn theo một vài phong trào của số đông. Thế nên năm nào 2 anh em tôi có kỳ thi lớn mẹ đều bắt đi sờ đầu rùa ở Văn Miếu mùng 3 Tết. Mặc dù chẳng thích thú gì nhưng vì chẳng thể nói lý lẽ trong trường hợp này nên 2 anh em vẫn đành tặc lưỡi nhắm mắt đưa tay để chiều ý bà. Cũng nhờ thế nên tôi mới chứng kiến cả trăm nghìn phương cách để sờ được đầu rùa, vượt qua lệnh cấm lẫn hàng dây cách ly, thậm chí cả người đứng gác. May mà sau khi em tôi thi đỗ đại học thì hình như 2 anh em cũng sẽ không còn kỳ thi nào gọi là quyết định cuộc đời nữa nên có thể tránh được cái việc vừa không thích vừa chả đẹp đẽ gì cho cam. Từ giờ đi Văn Miếu chỉ đơn thuần là tham quan mà thôi.

Hồi viết những câu thơ:
...Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Hẳn Vũ Đình Liên cũng không ngờ rằng phong trào xin chữ đầu năm sẽ quay trở lại mạnh đến nỗi người ta biến hẳn phố Văn Miếu thành phố Ông đồ mỗi dịp xuân về. Chiếu chữ chồng chéo lên nhau, tường treo kín giấy đỏ, người xin chữ chen chúc trên lề đường nhỏ đã mất một nửa cho các chiếu chữ và một nửa của một nửa còn lại cho dịch vụ gửi xe.
Hiểu biết về Hán tự của tôi gần như là con số 0. Vì thế bảo tôi hoàn toàn không biết gì về việc viết đúng hay sai, càng chẳng thể đưa ra một bình luận nào đáng gọi là tiêu chuẩn về chữ đẹp hay xấu. Chỉ đành như bao người khác, nhìn và cảm nhận, chọn lấy phong cách mình thích, hay nói một cách huyền hoặc, là tuỳ vào "duyên". Tuy vậy, tôi rất không thích những ai phải tra cứu từ một cuốn sổ nào đó có vẻ cũ kỹ, hay thậm chí là từ điển Hán - Việt. Hán tự nhiều thật đấy, nhưng số chữ người ta hay xin có lẽ cũng chỉ tầm chục chữ đổ lại mà thôi. Còn tuổi tác của ông đồ lại không phải điều làm tôi bận lòng, có lẽ vì tôi vẫn còn trẻ chăng?

Năm nay đi với Superman, đến quá nửa phố mới gặp ông đồ mình hay xin chữ. Gọi là ông đồ, thực ra bác này chỉ ngoài 30 tuổi. Trước khi bắt đầu, luôn có một cuộc trò chuyện ngắn giữa anh và khách về việc nên lấy chữ gì. Khi viết, bao giờ anh cũng đề nghị khách lấy hai tay giữ giấy. Hành động này khiến người xin chữ chú tâm hơn vào việc xin chữ của mình, hay người ta còn gọi bằng một mỹ từ khác: "sự thành tâm". Chữ anh viết khoẻ khoắn nhưng không thiếu đi tính mềm mại, có đủ âm dương trong từng nét bút.
Tôi được cho chữ Thuận để chống lại một năm đầy những bão tố mà những dấu hiệu của nó đã hiện lên rõ mồn một.
Năm mới....