1. Trang chủ

    image
    Trang chủ
  2. Ảnh

    image
    Ảnh
  3. Bài viết

    image
    Bài viết
  4. Về tôi

    image
    Về tôi
  5. Liên kết

    image
    Liên kết

Danh ngôn sống đẹp

Pu Pu - Kal Kally - Seperator

Lòng tốt không khan khiếm trong thế giới của chúng ta; Chỉ là trong sự mù quáng của mình, chúng ta nhầm lẫn gai với hoa hồng.


There's no dearth of kindness in this world of ours; Only in our blindness we gather thorns for flowers.


Grantland Rice

 20 người thích      Thích

Danh ngôn hành động

Pu Pu - Kal Kally - Seperator

Một số người nhìn mọi thứ đang có và hỏi “Tại sao?” Một số người khác mơ về những thứ chưa bao giờ có và hỏi “Tại sao không?”


Some men see things as they are and ask “Why?” Others dream things that never were and ask “Why not?”


George Bernard

 16 người thích      Thích

Tại sao bút máy, chứ không phải bút bi, lại được coi là một phụ kiện thể hiện cho đẳng cấp? Câu hỏi này hiện ra trong đầu khi tôi bắt đầu tìm hiểu về thế giới của bút và mực. Tất nhiên, như rất nhiều lần khác, không hề dễ dàng khi muốn tìm cách giải thích thoả đáng cho một câu hỏi Tại sao. Cá nhân, tôi cho rằng nên nhìn vấn đề theo 2 khía cạnh: văn hoá - lịch sử và kỹ thuật.

Về mặt kỹ thuật, một điều khá rõ ràng là bút máy đòi hỏi sự chế tác tinh xảo hơn so với bút bi, ngay cả khi so sánh hai cây bút máy và bút bi thuộc cùng đời do cùng một hãng sản xuất. Cả hai có vỏ giống nhau, nhưng với một chiếc bút bi, chỉ cần thêm ruột bút, vậy là đủ. Với bút máy, câu chuyện không đơn giản như vậy, và bạn cần đưa ra lựa chọn của mình. Đầu tiên là ngòi bút, từ kích cỡ đến chất liệu làm ngòi, đôi khi cả màu sắc. Sự phối hợp các yếu tố này cho ta những sản phẩm phục vụ cho từng mục đích như viết, ký, vẽ... Cần lưu ý rằng chất lượng viết của một cây bút máy phụ thuộc rất nhiều vào ngòi bút. Nguyên liệu làm ngòi thường sử dụng là thép và vàng, đôi khi có thêm các kim loại quý khác. Đó là chưa tính đến việc các hãng đôi khi còn khắc lên đó hoa văn, tên hãng, ký hiệu, tạo ra một chiếc ngòi nho nhỏ nhưng tinh tế và đầy tính thẩm mỹ. Một thành phần khác cho phép người dùng thay đổi là hệ thống chứa mực. Về cơ bản, có 3 kiểu: cartridge, converter hay piston, mỗi loại đều có ưu, nhược điểm riêng. Để tăng tính đa dạng, người ta tạo ra loại bút có thân trong suốt, giúp bạn có thể vừa viết, vừa nhìn mực sóng sánh. Một cảm giác thích thú!

Sự khác biệt trong cấu tạo dẫn tới hai hệ quả. Một, cách viết khác nhau. Với bút máy, bạn có thể viết chữ với một góc cầm nhỏ (góc tạo bởi bút và mặt phẳng tờ giấy), đồng thời không cần dùng lực ấn quá mạnh (tất nhiên là ngòi của bạn phải còn tốt). Đối với bút bi, góc cầm lớn, đôi khi là gần với góc vuông, và lực ấn phải đủ để lăn hòn bi. Vì thế, viết bằng bút bi khiến nhanh mỏi tay hơn so với bút máy. Để khắc phục chuyện này, người ta đã tạo ra bút bi nước, cho phép góc cầm nhỏ hơn và lực nhẹ hơn. Một sản phẩm mang tính lai tạo. Tuy vậy, bút bi nước không thay đổi được một vấn đề khác: đường nét của bút bi là như nhau, dù bạn thay đổi góc hay lực viết. Trong khi đó, mỗi thay đổi nhỏ nơi cổ tay sẽ dẫn tới sự khác biệt trong từng nét chữ với bút máy. Dựa trên nguyên lý này, viết uốn lượn, nét thanh, nét đậm là tuỳ theo ý thích của bạn. Hệ quả còn lại, là mức độ xứng đáng với đồng tiền người mua bỏ ra. Như đã nói ở trên, về cơ bản các mẫu bút bi thường khác nhau ở phần vỏ, trong khi với bút máy, từng thành phần lại có những lựa chọn riêng, và cho một số kết quả khác nhau. Bạn sẽ nghĩ gì nếu cây bút bi đắt tiền của bạn, hoá ra dùng chung ruột bút với một vài loại bút Trung Hoa anh hùng chẳng hạn?

Xét về khía cạnh lịch sử, bút máy lần đầu tiên được nhắc tới từ năm 953. Tuy vậy hiện không còn bất cứ tài liệu nào lưu giữ được hình mẫu hay thiết kế của cây bút này. Ở châu Âu, như ta vẫn thường thấy trên film ảnh, một thời gian dài người ta dùng bút lông ngỗng để viết cho mãi tới thế kỷ 17, khi những chiếc bút máy bắt đầu được thiết kế, sản xuất và trở nên thông dụng từ thế kỷ 18. Năm 1888, John Loud người Mỹ xin cấp bằng sáng chế bút bi, nhưng chỉ đến khi László Bíró, một nhà báo người Hungary, thực hiện những bước cải tiến quan trọng về mực cũng như thiết kế thì bút bi mới trở nên thông dụng. Ông đăng ký bằng sáng chế tại Anh năm 1938. Như vậy, bỏ qua giai đoạn không được ghi chép đầy đủ, có thể xem bút máy ra đời sớm hơn bút bi khoàng trên 1 thế kỷ. Với những người yêu thích tính cổ điển, đây là điều đáng để quan tâm.

So với bút bi, việc dùng bút máy rõ ràng là phiền phức hơn nhiều. Bạn cần chọn kiểu dáng, cấu tạo phù hợp với công việc và mục đích sử dụng của mình, và nếu kỹ tính hơn, là cả loại mực nữa. Mất công hơn, nhưng tính cá nhân cũng cao hơn. Một sự phiền phức khác là cần kiểm tra mực khá thường xuyên nếu không muốn phải mượn người khác. Nói vậy, nhưng rõ ràng việc tự chủ được lượng mực còn lại vẫn tốt hơn là bất ngờ hết mực như đa phần các loại bút bi hay gặp. Lạc quan mà nói, điều này giúp cho thời gian sử dụng bút máy lâu hơn, trừ khi cây bút bi của bạn có giá cao và bạn cũng sẵn ruột để thay. Tính cá nhân và khả năng làm chủ còn thể hiện ở chữ viết. Như đã trình bày ở trên, bút máy có khả năng tạo ra nét chữ khác nhau chỉ với những thay đổi ở góc độ cầm bút. Ở đây thì đúng là nét chữ, nét người. Tất nhiên tôi không phủ nhận việc bút bi cũng có thể cho phép có được những kết quả như vậy, nhưng thường sẽ đòi hỏi tốn nhiều công sức hơn.

Để kết thúc, xin được trích dẫn một đoạn trong bài viết "Why are fountain pen sales rising?" của Steven Brocklehurst đăng trên BBC Online (Link: http://www.bbc.co.uk/news/magazine-18071830)

Câu chuyện của bút máy là câu chuyện về giá trị một vật chịu ảnh hưởng của làn sóng công nghệ mới.

Bút máy đã từng thống trị, nhưng tới những năm 1960, công nghệ bút bi đã tạo ra một đối thủ ghê gớm. Chỉ người lạc quan nhất mới có thể dự đoán điều gì khác hơn là sự tuyệt chủng dành cho bút máy – chuyến tàu một chiều tới nghĩa địa công nghệ, cũng như bút lông trước kia.

Nhưng chúng không chết. Cách người ta nghĩ về chúng đã thay đổi, và vẫn đang thay đổi.

Gordon Scott, phó giám đốc về mảng văn phòng phẩm của Parker tại Châu Âu, Trung Đông và Châu Á đã nói: “Mối quan hệ của chúng ta với cây bút máy đã thay đổi, từ công cụ lao động trở thành một phụ kiện. Người ta muốn ký ức của cây bút máy trong chiếc bút hiện đại.”

Bút máy đã trở thành một món đồ xa xỉ và tìm được chỗ đứng cho mình.

Nếu tổng thống ký một hiệp ước, ông ta sẽ không dùng cây bút bi Bic Cristal. Nếu bạn tặng người mình yêu quý một cây bút, ý nghĩ của bạn sẽ hướng về bút máy nhiều hơn bút bi.

Bút máy là thứ sẽ được chọn làm quà tốt nghiệp hay vật may mắn cho ngày làm việc đầu tiên.

Và những người tự mua bút máy cho mình đã có một lựa chọn mà họ chủ động ý thức được. Họ đang nói: “Tôi muốn viết theo cách cũ.”

Theo Martin Roberts, một trong những chuyên gia về bút tại trang Web The Writing Desk, bút máy “đơn giản và trung thực” trong một thế giới mà công nghệ máy tính hiện đại thống trị khắp nơi.

“Ở phố nào cũng có quán McDonald, nhưng điều đó không khiến mọi người ngừng thưởng thức đồ ăn nấu tại nhà, đơn giản và ngon miệng.”



Đang đọc Lolita!

Cái sự kể trên cùng với việc Dương Tường là một dịch giả yêu thích của tôi, cộng thêm một vài mối quan hệ lằng nhằng khác khiến tôi biết chuyện tranh cãi về cụm từ “on the dotted line” mà cụ Dương dịch thành “trên dòng kẻ  bằng những dấu chấm”

Có bốn từ ngắn ngủi thôi mà cũng khiến giới học giả tốn đâu 5 – 6 bài gì đó để phê phán và bảo vệ cách dịch của cụ Dương. Đa phần ý kiến của phe phê phán thì bảo dịch thế là tối nghĩa, là khó hiểu. Khổ một nỗi là tôi hoàn toàn không thấy khó hiểu gì trong cách diễn đạt như thế cả. Nhưng nếu cứ vác cái lý luận ấy ra thì lại bị bảo là cãi cùn. Thôi thì cứ coi như mình trót có tí chút thông tuệ hơn các vị nào đọc thấy khó hiểu vậy.

Chuyện tranh luận thì cũng không có gì quá đặc biệt. Gây buồn cười nhất là lúc đọc bài báo “Về vấn đề sáng tạo trong dịch thuật” của bác Dân nào đó hiện đang là Chủ tịch Hội văn học dịch. Nghe thì có vẻ hay, thế mà lại mắc phải hai vấn đề:

Một, bác Dân khuyên người ta “phải kiên trì trong lao động dịch thuật”, thế mà bác lại chẳng chịu kiên trì tra cứu lại trước khi phê phán, để đến mức từ đầu tới cuối cứ kiên trì cái cụm “on dotted line” trong khi nguyên văn là “on the dotted line”. Một người có hiểu biết về tiếng Anh khi đọc cụm đầu lên ắt sẽ có cảm giác trái tai, thiếu hụt chứ không thể yên tâm sử dụng thoải mái như bác được.

Hai, vấn đề nêu ra trong đầu đề rất rộng lớn, bài báo cũng nhắc đến hàng loạt quan điểm được nói đi nói lại suốt mười năm qua, và sử dụng kha khá từ chỉ số nhiều, thế mà cuối cùng lại chỉ dẫn được duy nhất một dẫn chứng. Còn từ đầu tới cuối toàn là lý thuyết suông khiến người đọc không khỏi có cảm giác bị hẫng hụt vì chờ đợi những dẫn chứng hùng hồn cho cái nhan đề hoành tráng, đồng thời khiến độc giả thấy hình như bài này viết ra chỉ để phê mỗi một chỗ bác ấy không đồng tình với dịch giả?

Thôi, chắc cũng không nên tự làm tốn thời gian của mình  bằng cách đi đọc thêm các bài phê phán thay vì đọc tác phẩm. Chờ đợi mấy năm trời mới có được bản dịch trong tay, cũng không nên hoãn lại cái sự sung sướng vốn đã hiếm hoi trong cuộc sống bận rộn của mình.

Bạn nào muốn đọc toàn văn bài báo ấy, có thể tìm ở link sau:

http://www.viet-studies.info/NguyenVanDan_VanDeDichThuat.htm


Một hệ quả không vui vẻ gì lắm từ việc quán nước nghỉ bán là tôi lại phải có khoảng thời gian rỗi rãi vào tối thứ 7. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng, mọi việc chưa đâu vào đâu như hiện tại thì nghỉ ngơi không tự nguyện kiểu này đúng là một sự khó chịu. Tất nhiên không thích thì cũng chẳng thể phá bỏ chướng ngại, chỉ còn cách chấp nhận sự có mặt của nó mà thôi. Và phương án đơn giản nhất để không tiêu phí mất hơn 4 tiếng đồng hồ hàng tuần là café sách.

Thật lòng mà nói tôi vẫn luôn tin rằng cái nghề mình theo đuổi cũng là một kiểu nghệ thuật. Nó đòi hỏi sự kết hợp tinh tế và chính xác giữa khối óc và đôi bàn tay, sự hòa quyện bắt buộc của trái tim nóng hôi hổi và cái đầu lạnh như băng, và có lẽ không ở đâu mà lý thuyết lại chỉ là màu xám, còn cây đời thì xanh tươi mơn mởn như trong nghề này. Đáng tiếc là với những kẻ mơ vượt vũ môn lần thứ hai thì để có được màu xanh của sự sống ấy bắt buộc phải vật lộn với cái màu xám khắc nghiệt đến mức bị nó ám ảnh, chập chờn trong cả những giấc mộng. Vì thế việc đổi gió tối thứ 7 có lẽ cũng không hẳn là tồi tệ quá. Cứ xem như một cách tưới mát cho cái tâm hồn vốn đã nghèo nàn và cằn cỗi nay lại càng xơ xác vì quanh năm suốt tháng chỉ còn biết mài đũng quần trên giảng đường mà nhai đi nhai lại những chấn thương bụng và gãy xương chi.

Với tinh thần như thế, sau hai tối không chốn nương thân mà học tập, tôi cũng đọc nốt được cuốn Truyện ngắn của Chekhov vốn đã phải tạm ngừng từ cả năm nay. Mặc dù chỉ biết một số rất ít nhà văn nổi tiếng nhưng với cảm nhận của bản thân thì có lẽ việc người ta tôn xưng ông là một trong ba ông vua của thể loại truyện ngắn chắc cũng chẳng phải quá lời. Nhìn chung các truyện của Chekhov đơn giản, nhẹ nhàng, trong đó sự việc được thuật lại một cách khách quan, hay chính xác hơn là lời bình luận của các nhân vật đơn giản là của bản thân họ, không có chút ảnh hưởng nào đến nhận định của độc giả. Tất cả đều xoay quanh cuộc sống của người dân Nga thời bấy giờ, chậm rãi, đều đặn, không có cao trào kịch tính như thường thấy ở tác phẩm của các nhà văn khác. Chúng luôn làm tôi liên tưởng đến lưỡi dao cạo. Cả hai đều nhỏ gọn, mỏng manh, và nhất là cái cách chúng để lại dấu ấn mới thật giống nhau: nhẹ nhàng nhưng sắc bén, đủ để người ta phải chú ý đúng mức.

Cũng chính vì xây dựng theo hướng như vậy nên với bản thân mà nói, phân tích kỹ từng truyện của Chekhov là việc khó làm nổi. Lời lẽ sáo rỗng hoàn toàn không thích hợp với những câu chuyện ngắn gọn, súc tích như thế này. Cách duy nhất tôi có thể chia sẻ là mời người khác cùng đọc với mình. Có lẽ là một kiểu không thể thốt nên lời chăng ?


I. Xuất xứ:
1.1. Gốc tích, quê quán:

Tấm không phải là tên thật của nhân vật nữ chính trong truyện. Kỳ thực, tên phổ thông nhất của cô ta là “ Tro Bếp” ( Cinderella theo tiếng Anh) , dịch sang tiếng Việt là “Lọ Lem”. Cái tên này được dùng chung tất cả các nước châu Âu. Tùy nước mà tên gọi có khác nhau đôi chút:

Pháp: Cendrillon
Ý: Cenerentola
Rumani: Cenusotca
Nga: Cernuska hay Doluska
… Tất cả cái tên đều có nghĩa chung là “ Tro Bếp”.

Còn ở các nước ngoài phạm vi châu Âu, cái tên này thay đổi nhiều hơn, không còn phụ thuộc vào ý nghĩa từ “Tro Bếp” nữa :

VN: Tấm- Cám
TQ: Diệp Hạn
Choang: Ta Gia – Ta Luân

Tày: Tua Gia – Tua Nhi
Chăm: Neang Cantoc – Neang SongAngcat/ Mu Gajaung – Mu Haloek
Campuchia: Neang Kantoc – Neang Chong Angkaat
Myanma: Bé
Xre: Gơ Liu
Hre: Ú
Thái: Ý Ưởi
Hmong: Gàu Nà

Các tên khác:
Kajong – Halek
Ko Giong – Hu Lếch.

Lưu ý 1 điều: Bạch Tuyết thuộc 1 motip truyện gần giống chứ không phải là Tro Bếp, đừng hiểu lầm.

1.2. Các phiên bản:

Thật sự là khó có thể thống kê hết đã từng có bao nhiêu phiên bản Tro Bếp trên toàn thế giới, ta chỉ có thể biết rằng mức độ phổ biến của câu chuyện này cực kỳ rộng lớn, từ đất Nga xa xôi đến VN mưa rào, xuyên qua Trung Đông sa mạc, tràn xuống cả Châu Phi nóng nực. Không đâu là không có “Tro Bếp”, hầu như không dân tộc nào là không có ít nhất một phiên bản như thế cho mình. Chỉ riêng Việt Nam thôi người ta đã tìm ra ít nhất 35 phiên bản. Theo một cuốn sách cũ mà tôi quên mất tựa đề, truyện “Tro Bếp” có tổng cộng ít nhất 200 phiên bản trên toàn thế giới ( 200 hay 2000 tui ko còn nhớ rõ, phải chi tôi tìm lại được cuốn ấy, chỉ còn nhớ tác giả hình như là Đinh Gia Khánh.). Đó là chưa tính đến những truyện được phóng tác từ motip này, ví dụ như bộ phim Lọ Lem lừng danh của Want Disney hay câu chuyện Tro Bếp của Andescen viết lại.

1.3. Tro Bếp tồn tại từ bao giờ:
Không bao giờ có thể biết. Nhưng nếu xét trên bình diện chung của truyện cổ, vốn là những truyện xuất hiện từ thế kỷ thứ 10 sau công nguyên, khi những thể loại như sử thi, thần thoại, anh hùng ca đã chìm vào dĩ vãng thì ta tạm chấp nhận Tro Bếp là một idol xuất hiện vào thế kỷ thứ 10. Bản Diệp Hạn của Trung Quốc cũng ghi nhận sự xuất hiện sớm nhất của nó là thế kỷ thứ 9, vậy là suy luận của chúng ta tạm xem là trùng khớp.

II. Những chi tiết chung trong motip truyện:
2.1. Con cá hay người mẹ?

Quý vị chắc chẳng quên được chi tiết con cá bị mần thịt nhỉ? Phiên bản Tro Bếp của ta xem con cá là hình ảnh người mẹ của Tấm. Kỳ thực, hầu hết những phiên bản motip ở riêng khu vực Đông Á mà theo hướng “ Tấm – Cám không phải là chị em ruột” thì hầu như đều viết 1 chi tiết rất quan trọng rằng: “ cái con/ thứ đó là mẹ Tro Bếp đầu thai.”. Hãy điểm sơ sơ lại list truyện Tro Bếp:

TQ: Diệp Hạn ( mẹ Diệp Hạn hóa thành cá vân mắt đỏ, bị ăn…)
Choang: Ta Gia – Ta Luân ( mẹ Ta Gia thành chim khách/ chim quạ, bị ăn thịt…)
Tày: Tua Gia – Tua Nhi ( Mẹ Tua Gia thành bò, bị ăn thịt)
Myanma: Bé ( mẹ Bé thành rùa, bị ăn thịt)
Hre: Ú ( Mẹ được vua Thủy Tề cứu hóa thành người cá)
Hmong: Gàu Nà ( mẹ Gàu Nà thành bò/ chim, bị ăn thịt.)
Thái: Ý Ưởi ( mẹ chết biến thành con cá vàng nhỏ.)

Như vậy, ta thấy rằng rất nhiều phiên bản Tấm Cám đã mô tả việc mẹ con Cám ăn thịt mẹ Tấm dưới 1 hình thức ước lệ ( mẹ Tấm đang trong lốt cái gì đó). Cái “con cá” ấy, hầu như luôn thể hiện ám chỉ “ là 1 hóa thân của 1 người thân Tấm.” chứ không đơn thuần là con vật dùng để luyện lấy Ultima weapon ( ý tôi nói là vụ chôn xương để lấy áo quần đẹp á.). Thậm chí 1 vài dị bản, Mẹ Tấm đóng thay luôn cả vai trò của ông tiên giúp Tấm cưới vua ( cái này khá ít, chỉ có thể xem là trường hợp cá biệt). Cái ý nghĩa này thường xuất hiện khi “ Tấm – Cám không phải là chị em ruột” ( bởi nếu là chị em ruột, tức mẹ Tấm còn sống, thì con cá ấy là hiện thân của kí rì đây?)

Ý nghĩa “ cái con bị ăn thịt ấy là mẹ/ cha của tôi đầu thai” theo khảo sát cho đến thời điểm hiện tại, chỉ thấy xuất hiện ở khu vực Đông Á mà thôi. Những nơi khác nó đơn giản chỉ là vật dùng để chôn xương lấy áo, với xuất xứ có khi chỉ là rất bá vơ như “ Tro Bếp đang ngồi khóc thì con cá ở đâu bơi lại”, hoặc trọng đại hơn 1 chút là “ thần hiện ra tặng cho con cá.”

2.2. Sự giúp đỡ từ thế lực siêu nhiên:

Cái này chắc tôi ko phải nói nhiều. Đơn giản là trừ vài cá biệt, mẹ/cha đã chết của Tấm ở các bản Đông Á sẽ vừa đóng vai trò “ cái con bị ăn thịt” vừa đóng luôn vai trò ông tiên, thì hầu hết các phiên bản đều giao nhiệm vụ giúp đỡ này cho 1 thế lực bất bình thường VD như Bụt ( Việt Nam), hay đạo sĩ, thần thánh, bà tiên,…

2.3. Chiếc giày hay bàn chân?

Tấm ở VN được hoàng tử/vua phát hiện qua chiếc hài thêu. Tro Bếp ở châu Âu được phát hiện qua chiếc giày pha lê/ thủy tinh. 1 số nước khác, Tro Bếp được phát hiện qua những món còn … trần tục hơn VD như …guốc gỗ. Sự phổ biến của phiên bản “ nhận biết qua thứ người ta mang dưới chân” khiến không ít người nhầm lẫn đôi giày làm thứ giúp nhà vua phát hiện ra và công nhận Tro Bếp.

Kỳ thực, nếu ta để ý, nguyên nhân Tro Bếp được phát hiện là do “ chiếc giày quá nhỏ, nhỏ đến nỗi những cô gái có đôi chân nhỏ nhất cũng vẫn còn lớn hơn đôi giày kỳ lạ đến hai lần.”. Sau này, người ta phát hiện ra một số phiên bản khẳng định điều này. VD như bản Campuchia hay một số bản khác tại những xứ không quen đi giày dép, Neang Cantoc ( Tro Bếp) được nhận ra nhờ vua trông thấy đôi bàn chân nhỏ nhắn chẳng lầm vào đâu được.

Như vậy, thứ giúp Tro Bếp được nhận ra và trở thành hoàng hậu là … đôi bàn chân nhỏ chứ không phải chiếc giày nhỏ. Sự ngộ nhận này đã tồn tại trong rất nhiều thế hệ.

2.4. Tái sinh liên tục:

Đặc điểm riêng của các bản Tro Bếp vùng Đông Á là câu chuyện chưa kết thúc sau khi Tấm thử giày mà sẽ kéo dài quan 1 lần hoạn nạn nữa với sự kiện tái sinh liên tục. Tấm sau khi chết sẽ liên tục biến thành đủ thứ cây cỏ , con vật cho đến khi nhà vua nhận ra. Lần này dĩ nhiên là dông dài và phức tạp hơn vụ thử giày hồ nửa đầu truyện.

Thống kê 1 số quá trình biến hóa của vài phiên bản tiêu biểu:
Bản Chăm của Landes: rùa – măng – chim – cây thị
Bản Chăm của Leclere: rùa – chim – măng – cây pen
Bản Việt của Vũ Ngọc Phan: chim – cây xoan – khung cửi – cây thị
Bản Việt của Landes: Chim – măng – cây thị
Bản Tày: Chim – tre – 2 quả trứng
Bản Xơ Rê: trúc – chim – cây thị
Bản Hơ Rê: chim – cà – cam
Bản Khmer: chuối – tre
Bản Myanma: Bồ câu – đu đủ
Bản Lào: quả tum
Bản Thái Lan: chim

Ta lưu ý 1 điều: hầu hết các phiên bản thì Tro Bếp có sự trùng hợp là bị biến thành chim và bị ăn thịt. ( lưu ý thôi vì bản nào cũng có, chứ nó ko có ý nghĩa gì lớn lắm)

2.5. Ending của Cám:
Trừ vài bản phóng tác của Andescen hay người khác, hầu hết đều ghi nhận kết cục ko tốt đẹp gì cho Cám ( 100% là bị giết theo nhiều cách khác nhau.). cái này sẽ được đề cập ở mục III.

III. Sự Thật?

3.1. Dì ghẻ con chồng hay chị em sinh đôi?

Có lẽ ít người phát hiện ra điều này. Nhưng có ít nhất 2 kiểu OP cơ bản khác nhau, dẫn tới 2 cái ending cơ bản cũng khác nhau tương ứng.

Thường nhắc đến Tấm Cám hay Tro Bếp, ta thường nghĩ đến 1 câu chuyện về xung độ “ dì ghẻ – con chồng”, nhưng thực tế không phải như vậy. Tấm Cám có đến 2 motip cơ bản là motip “ Tấm – Cám là chị em cùng cha khác mẹ” và “ Tấm – Cám là chị em ruột sinh đôi.”, một motip khá thịnh hành ở Đông Nam Á. Điều này nghe tưởng như đùa nhưng thực sự số bản theo motip “ chị em sinh đôi” là rất lớn. Theo thống kê, ít nhất nó bao gồm:

chiếm tới 2 trong tổng số 3 bản Chăm thu thập được.
các bản Campuchia
Bản Tấm Cám VN ( bản của Landes và bản của Jeanneau)
Các bản của dân tộc ít người trong phạm vi VN.

*. Nếu theo motip “ dì ghẻ con chồng” thì diễn biến câu chuyện thường là:
- 1 thế lực siêu nhiên bảo Tro Bếp nuôi cái gì đó ( ăn được), 90% “cái gì đó” là người thân cô ta đầu thai.
- “cái gì đó” ấy sẽ bị ăn, Tro Bếp sẽ sử dụng những phần còn lại để có đồ đi dự hội và gặp gỡ “người ấy”.
- “Người ấy” đi tìm Tro Bếp, nhận ra cô nhờ chiếc giày chỉ vừa với đôi chân nhỏ.
- Tro Bếp sau khi làm vợ 1 thời gian, trở về nhà, bị mẹ con dì ghẻ giết và đánh tráo.
- Tro Bếp tái sinh liên tục.
- Tro Bếp và người ấy gặp lại nhau.
Ending:
- Mẹ con dì ghẻ bị tiêu tùng, bởi những thế lực khác nhau tùy theo phiên bản mỗi nước.

*. Nếu theo motip “ chị em sinh đôi” thì câu chuyện sẽ thu hẹp về phạm vi gia đình và mâu thuẫn 2 chị em hơn, cụ thể:
- Tấm – Cám được mẹ/cha dặn đi bắt cá, người bắt nhiều sẽ được xem là chị ( và Tấm bị Cám tráo giỏ.).
- 1 thế lực siêu nhiên bảo Tro Bếp nuôi cái gì đó ( ăn được), 90% “cái gì đó” không có can hệ máu mủ gì với người thân đã chết cả ( vì bà mẹ vẫn còn sống sờ sờ kia). “ Cái gì đó” đơn giản chỉ dùng để làm bạn và để lấy áo quần dạ hội.
- “cái gì đó” ấy sẽ bị ăn, Tro Bếp sẽ sử dụng những phần còn lại để có đồ đi dự hội và gặp gỡ “người ấy”.
- “Người ấy” đi tìm Tro Bếp, nhận ra cô nhờ chiếc giày chỉ vừa với đôi chân nhỏ.
- Tro Bếp sau khi làm vợ 1 thời gian, trở về nhà, bị mẹ và em ruột giết chết và đánh tráo, thường là theo lối giội nước sôi rồi băm xác đem giấu. Do là chị em sinh đôi nên người em giả dạng rất dễ dàng.
- Tro Bếp tái sinh liên tục.
- Tro Bếp và người ấy gặp lại nhau.
Ending:
- Cám bị ưu tiên chết, cái chết nhấn mạnh vào vấn đề “ Cám cố gắng giống chị để tiếp tục đánh tráo”. Bà mẹ ruột thì tùy, thường là chẳng nghe đá động gì cả. Lý do đơn giản vì motip này đã hoàn toàn thiên về xung đột chị em.

Như ta thấy, 2 chuỗi motip này dẫn tới 2 cái ending thuộc loại “ liếc thì có vẻ giống nhưng xem kỹ mới thấy khác.”. Thường ở motip “ dì ghẻ con chồng”, nó mang ý nghĩa “ tòa án, trừng trị” nơi 1 ai đó ( tuyệt đối không phải Tấm) sẽ đứng ra phân xử Cám và làm mắm cô ta gửi mẹ sau khi sự thật phơi bày. Còn nếu theo motip “chị em sinh đôi” thì ending theo hướng nhấn mạnh vào vấn đề “ Cám cố đánh tráo lần thứ 3” vốn đã xảy ra suốt mạch truyện.

Để hiểu rõ hơn, tôi nêu ra list các ending:

- Tày: Tua Gia Tua Nhi ( Mẹ vua sai Tua Gia khoan về nhà mà giả làm người bán bánh. Hoàng Hậu Tua Nhi ko nhận ra, hỏi cô bán bánh làm sao mà trắng đẹp thế, cô trả lời nhờ tắm nước sôi. Hoàng hậu hí hửng làm ngay, chết.)
- Ý( đảo Sicile): Cenerentola ( vua giết và làm mắm cô con gái, gửi mụ dì ghẻ. Khi mụ ăn, con mèo nói: “ cho tôi chút gì tôi khóc giúp cho”. Mụ đuổi mèo đi. Sau mụ phát hiện ra sự thật, chết. Mèo lại kêu “ mụ không cho tôi gì cả, tôi chẳng khóc giúp đâu.”)
- Campuchia: Neang Kantoc ( Hoàng hậu giả Neang Chong Angkaat chạy vào rừng, mất hút vĩnh viễn ko ai còn nhìn thấy. —- > làm điểm tâm cho cọp beo. Cha thì bị cá sấu lôi đi)
- Myanma: Bé (Hoàng hậu giả đòi đem gươm thần phân xử. Gươm thần giết người, vua làm mắm biếu dì ghẻ)
- Xre: Gơ Liu ( Gơ Lat bị hoàng tử lệnh làm mắm)
- Hre: Ú (. Cao bị chồng Ú giết làm đồ ăn, cha mẹ bị ong đốt chết)
- Thái: Ý Ưởi ( Nghe Ý Ưởi nói trắng nhờ tắm nước sôi, Ý Nọong nấu nước sôi, nằm vào máng bảo Ý Ưởi giội hộ.)

Còn nhiều, nhiều, nhiều nữa. Nhưng tôi đá ra chỉ nhiêu đây thôi. Tóm lại là như thế này:
- Theo phiên bản “ dì ghẻ” thì không thể có đoạn bắt tép nhưng thường lại thêm vào chi tiết con vật nuôi của Tấm là cha/mẹ hóa thân. Còn đoạn kết luôn là Hoàng hậu giả bị vạch mặt và bị chủ yếu là chồng của Tro Bếp biến thành mắm cá ( quái quỷ gì mà dân xưa ghiền mắm cá thế ko biết, tận đến cả Châu Âu như Ý cũng mắm cá) hoặc “nhẹ nhàng” hơn là bị thần thánh ( thánh kiếm, thần linh) hay động vật ăn thịt “thưởng thức” ( như bản Campuchia một người chạy vào rừng chơi với beo, 1 người chơi với cá sấu).

- Theo phiên bản “ sinh đôi” thì câu chuyện nghiêng về xung đột chị em và nhấn mạnh sự giống nhau của 2 người. Bắt buộc phải có vụ bắt tép để phân xử ai chị ai em. Chi tiết “con cá là cha mẹ” bị loại bỏ. Tấm phải chết vì nước sôi. Cái chết của Cám liên quan đến chủ đề “ sự đánh tráo” nhiều hơn. Do Tấm sau khi trở về đã trắng hơn trước, Cám cấp tốc tìm cách trắng như Tấm để nhanh chóng giết người và tráo đổi lần nữa. Tấm thật thà giải thích nguyên nhân mình trắng ( Bởi thế nên đoạn giữa của motip “sinh đôi”, Tấm bị giết hầu như phải vì bị giội nước sôi hoặc là bị chặt cau rồi rớt vào hố nước sôi,… bắt buộc phải có nước sôi). Cám hý hửng làm theo ( hài hước hơn là Cám rủ Tấm cùng đi … tắm trắng, nấu nước, rồi bảo Tấm giội phụ, Tấm thật thà giội giúp, ai ngờ… như bản của Thái.)

Nhưng vấn đề ở đây là ending theo phương pháp “trừng phạt” cho cả mẹ con Cám lại có thể áp dụng luôn cho cả motip “ chị em sinh đôi” miễn là cho Tấm đứng ngoài. Sự lộn xộn đến từ chỗ này.

3.2. Lịch sử bản Tấm Cám mà ta biết.

Thực tế cái gọi là “ truyện cổ tích Tấm Cám” mà ta vẫn thường nghe hiện nay không phải là bản Tấm Cám gốc mà là bản … viết của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan. Ông đã dựa vào các mẫu truyện Tấm Cám mà Landes, Leclere, … đã thu thập hồi cuối thế kỷ 19. Mà bản có nội dung gần với bản Tấm cám ta biết nhất là bản tìm thấy năm 1886 của G.Jeanneau. Cụ Vũ đã dựa vào những bản tìm thấy năm 1886 này, thêm mắm bỏ muối 1 ít, thế là viết ra câu chuyện “Tấm Cám revenge độc nhất vô nhị trong lịch sử Tro Bếp, phiên bản cổ tích duy nhất có sự phát triển tích cách nhân vật” ( tự hào đi).

Cụ thể bản Tấm Cám 1886 chung quy là thế này:
- Tấm – Cám là chị em sinh đôi
- 2 người đi bắt tép để được xét ai là chị, ai là em
- Tấm bị giội nước sôi hoặc bị chặt cau rơi vào hố nước sôi
- Tấm tái sinh nhiều lần rồi gặp được vua.
- Tấm trở về, trắng đẹp hơn xưa. Cám muốn đánh tráo tiếp bèn hỏi “ Chị ơi, sao chị trắng thế?”. Tấm trả lời “ ngày xưa chị bị em giội nước sôi nên trắng”. Cám nghe theo đi làm ngay. Tiêu Tùng.
- Tấm làm mắm Cám gửi dì ghẻ.

Còn bản của Vũ Ngọc Phan là thế này:
- Tấm – Cám là chị em cùng cha khác mẹ
- 2 người đi bắt tép để … giành yếm
- Tấm bị chặt cau chết, chẳng có nước sôi nước lạnh gì cả, chỉ có ao hay giếng mà thôi.
- Tấm tái sinh nhiều lần, gặp lại vua.
- Tấm trở về, trắng đẹp hơn xưa. Cám thấy Tấm trắng đẹp quá nên ghen ghét, bèn hỏi “ Chị ơi, sao chị trắng thế?”. Tấm trả lời “ muốn trắng thì để chị giúp cho”. Cám nghe theo đi làm ngay. Tấm bảo Cám đào cái hố rồi chui xuống, Tấm kêu quân đổ nước sôi xuống. Cám tiêu tùng.
- Tấm làm mắm Cám gửi dì ghẻ.

Như ta thấy, bản tìm được năm 1886 đã có dấu hiệu chắp ghép và phi lý ở đoạn ending. Cụ thể là lẽ ra chỉ dừng ở đoạn Cám làm theo, chết, thì nó lại phang tiếp thêm đoạn Tấm làm mắm Cám. Từ cái ending “ bắt chước thất bại” phổ thông của motip “ chị em sinh đôi”, Ko biết vô tình hay cố ý, G. Jeanneau đã thêm vào đoạn “ Tấm mắm cám gửi dì ghẻ”, trong khi đáng ra có chi tiết này thì ko thể có chi tiết kia và ngược lại ( và người làm mắm cám theo đúng logic phải là 1 ai đó ngoài Tấm). Đó là theo tư duy logic cổ truyền cổ motip Tấm Cám.

Cụ Vũ Ngọc Phan có lẽ cũng đã nhìn thấy điều kỳ cục này nên đã cố sức sửa, mà càng sửa càng… bậy. Cụ thể cụ đổi Tấm Cám từ chị em sinh đôi sang dì ghẻ con chồng. Đã thế, cụ sửa luộn vụi bắt cá phân định chị em thành “giành yếm”, biến chi tiết đó thành thừa thãi. Vụ chặt cau thì cụ bỏ luôn nước sôi. Dẫn đến hệ quả tất yếu là khi Cám hỏi “ sao giờ chị trắng” thì Tấm làm sao nói “ tại hồi đó em giội nước sôi chị” cho được ( vì có bị giội đâu mà nói)? Thế là cụ “ đâm lao thì phóng theo lao”, sửa luôn lời nói của Tấm thành 1 câu lừa gạt “ muốn trắng thì để chị giúp cho” và thế là cụ đã đạt tới mục đích hàn gắn những chi tiết có vấn đề ở ending thành ending trả thù độc nhất vô nhị ( chưa tính ba cái câu mắm muối của cụ: “ lấy tranh chồng chị”, “ lấy chồng tao “ … gì gì ấy nhé). Và con cháu cụ cho nến nay được thỏa thuê mà bình luận cái sự ác độc của Tấm 1 cách phí thời gian mà chẳng hiểu gì.

3.3. Những trục trặc của bản Tấm Cám hiện đại của Vũ Ngọc Phan:

Chúng ta lưu ý 1 điều thuộc về căn bản của truyện cổ tích: đó là nhân vật không bao giờ có sự phát triển tính cách. Như Thạch Sanh, dù bị đúng 1 kẻ lừa nhiều lần vẫn tin sái cổ kẻ đó. Những truyện “ Ăn Khế trả vàng” cũng thể hiện người em như 1 kẻ ngốc, thật thà kể cho anh chuyện con quạ, thật thà đổi nhà, trong khi tên baka nhất cũng sẽ tự hiểu tên anh tự dưng ôm cả nhà cửa ra đổi là vì lý do gì. Đây là cái đặc trưng cơ bản trong tính cách nhân vật, mà nhiều người thời nay đọc thường gọi là “nhân vật hiền lành, thụ động, thật thà,…ngu ngu.”. Kỳ thực, nói các nhân vật “ngu ngu” thôi thì chưa đúng, ta phải bảo rằng họ chỉ là cái máy không hề có suy nghĩ thì đúng hơn. Cũng bởi chỉ là cái máy phát thanh gượng ép của tác giả dân gian cách đây 1000 năm nên mỗi nhân vật chỉ luôn đóng chết 1 nhân cách. Thạch Sanh thật thà, nghe lời thì sẽ luôn nghe lời, dù là 2 lần bị dụ đi gặp chằn và đại bàng. Cũng tương tự, Tấm dẫu bị bạc đãi thế nào thì vẫn tin sái cổ khi nghe em/ mẹ chặt cây câu mà lại nói mình đuổi …kiến. Nếu kể ra thì ko biết bao giờ mới xong. Một điều nữa là tính cách nhân vật luôn được trình bày ngay ở đầu câu chuyện. VD như trong “ ăn khế trả vàng” nói thẳng ngay: Người anh tham lam, người em thật thà. Và tính cách nhân vật cứ đóng chết như thế cho đến khi kết thúc.

— > vậy, nếu nhân vật cổ tích mang cái đặc trưng cơ bản là “ tính cách mỗi người đóng chết theo lời giới thiệu ban đầu” thì sao cái gọi là “ Truyện cổ tích Tấm Cám” ( thực tế là truyện … hiện đại Tấm Cám. Tác giả: Vũ Ngọc Phan.) mà ta biết lại xuất hiện chi tiết mô tả Tấm gian hùng, Tào Tháo ở đoạn cuối, khi mà ngay từ đầu truyện đã quy ước đóng chết rằng “ Cám lười biếng, tham lam, độc ác, Tấm hiền hậu, thật thà, đảm đang.”??? 1 nhân vật bị đóng chết nhân cách là “hiền” thì tuyệt đối chỉ có thể cam chịu, cố sống rồi chờ ai đó giúp đỡ, hơi hơi chủ động hơn là mong đối thủ chết 1 cách vô tình. Chúng ta ngày nay đọc vào có thể bảo Tấm – Cám của Thái ( 2 người rủ nhau đi tắm trắng, Tấm thật lòng kể nguyên nhân mình trắng, thực lòng giúp Cám trắng đẹp, ai ngờ Cám chết ấy.) hay Thạch sanh của ta là đạo đức giả lộ liễu. Ờ, há 1 người bị người kia giết nhiều lần vậy mà có thể thật thà giúp đỡ người đó? Ờ, há Thạch Sanh ko cách gì mà ko biết Lý Thông là kẻ hại mình? Há ảnh ko hề biết chuyện ông trời – cha ảnh, sẽ sét đánh mẹ con anh Lý khi họ về? … Nếu xét theo 1 tác phẩm hiện đại, cái điều nghi vấn đó là chính xác. Nhưng xét theo tư duy logic của truyện cổ 1000 năm trước, điều các vị đang suy nghĩ đây mới là … phi logic. Thạch Sanh hiền, người em hiền, Tấm hiền, … thì cứ đóng chết như thế, sao sao thây kệ, có hợp logic thực tế không cũng mặc. Đơn giản đến cực kỳ.

Nhưng đáng tiếc, khi chế biến Tấm Cám, cụ Vũ Ngọc Phan ko hề để ý chi tiết “luật tâm lý” tối quan trọng này của cổ tích. Thế nên cụ đã nhìn cái bản bị chắp ghép ending 1 cách vô tình hay cố ý của G.Jeanneau thành 1 bản bị lỗi, nhưng là bị lỗi do “ chưa thể hiện rõ cái kết trả thù” chứ ko phải là cái mâu thuẫn tâm lý ko thể xảy ra của Tấm trong đoạn kết,TỨC LÀ NHÌN THEO CÁI NHÌN HIỆN ĐẠI, CHO RẰNG TRUYỆN MIÊU TẢ CHƯA SÁT SỰ TRẢ THÙ. Thế nên cụ mới thêm mắm bớt muối, biến cả chị em sinh đôi thành cùng mẹ khác cha, tạo ra cái bản mà ta biết. Và chỉ ở 1 bản Tấm Cám duy nhất của Vũ Ngọc Phan này, người ta mới có thể phăng ra cái gọi là “ logic phát triển tính cách nhân vật Tấm” ( Hoàng Tiến Tựu), thậm chí… thơ văn hơn là “ từ 1 cô gái hiền lành nhân hậu trở thành 1 cô gái có tinh thần…đấu tranh” ( Phạm Xuân Nguyên”, hoặc là giàu tính triết học như trong bài viết “ Bàn về cách ứng xử của truyện cổ tích Tấm Cám “ đăng trên tạp chí văn hóa dân gian số 4 năm 1996, tác giả Bùi Văn Tiếng dựa vào:

“ tôi cứ bị ám ảnh bởi ý kiến của L.Tonstoi: 1 trong những lầm lẫn vĩ đại nhất khi xét đoán con người là chúng ta hay gọi và xác định… người này tốt, người kia ác,… trong khi con người là tất cả…”

rồi cứ thế phăng tá lả thành:

“ đây là chỗ thiếu nhân văn nhất nhưng lại là chỗ nhân văn hơn cả trong cách ứng xử nghệ thuật của tác giả Tấm Cám. Thì ra 1 người dịu dàng như Tấm cũng có thể trở thành độc ác, vì thế, muốn tự hoàn thiện mình, con người phải hết sức cảnh giác trước nguy cơ tha hóa…. Phải chăng đó là bức thông điệp mà người nghệ sĩ dân gian xưa, thông qua cách ứng xử nghệ thuật độc đáo của Tấm Cám, muốn gửi đến thế hệ mai sau?” ( ặc, trí tưởng tượng bay xa ko cần cả sữa Pristi)

3.4. Trục trặc trong bản Tấm Cám 1886 của G.Jeanneau:

Như trên vừa trình bày, Tấm cám mà ta biết thực ra là bản viết của tác giả “độc đáo, nhân văn hơn cả” Vũ Ngọc Phan đã chỉnh sửa ( và vô tình làm nó tệ thêm) dựa trên phiên bản Tấm Cám cuối thế kỷ 19 do G.Jeanneau thu thập. Tất cả căn nguyên đến chỉ từ cái đoạn “ Tấm thật thà hướng dẫn, Cám tự làm” rồi bị thêm vào khúc sau “ Tấm làm mắm Cám” với 2 tính cách Tấm trái ngược hoàn toàn mà chỉ cách nhau có vài câu. Vì sao bản 1886 lại có sự chắp ghép 2 ending thế này?

- trong quá trình nghiên cứu, đối chiếu 2 bản của người Choang ở Quảng Tây và bản người Tày ở VN, người ta xác định rằng: “ 2 bản này vốn cùng 1 gốc.”. Lam Hồng Ân nhận xét: “ Bản Ta Gia – Ta Luân của người Choang rất có thể là bản biến dị của truyện nàng Diệp Hạn của TQ.”. Qua sự công bố này, ta có thể khẳng định 1 sự giao thoa tình tiết truyện lẫn nhau 1 cách vô tình trong các dân tộc sống gần nhau. Bản 1886 tìm thấy ở Mỹ Tho, 1 vùng đất Nam Bộ với đầy dân di cư từ các tộc khác nhau như Chăm, Việt, Cam,… mà mỗi dân tộc lại mang theo mình dăm bảy truyện Tấm Cám. Đặt những thứ na ná ấy ở gần nhau thì thế tất yếu là rồi những chi tiết của chúng sẽ bị trộn lẫn vào nhau lúc nào ko biết, tạo ra hiện tượng 1 câu chuyện với “ râu ông nọ cắm cằm bà kia” mà ta thấy. Xét ra, Tấm cám của Cam – Việt – Chăm giống nhau 1 cách kỳ lạ chi tiết “ chị em sinh đôi”, “ Tấm bị giội nước”,… điều này càng củng cố suy luận trên, chỉ khác Ending 1 chút là bị 1 thế lực ko phải Tấm giết hại, hay là đi tắm trắng với nhau vô tình chết mà thôi . Và ta nên nhớ, cho đến bản 1886, sự “ trộn lẫn” này ở bản VN chỉ mới là thêm cái câu “ Tấm lấy xác cám làm mắm gửi dì ghẻ” ráp thêm vào đoạn trước “ Tấm và Cám cùng nhau đi tắm trắng, Cám nhờ Tấm giội hộ, Tấm thật thà giúp,…”, chứ chưa bị trộn lẫn lộn xộn đến mức ráp cả 2 motip “ dì ghẻ” và “ chị em sinh đôi” vào 1 như Vũ Ngọc Phan đã làm.

Tại sao lại là nước sôi? Kha khá số bản Tấm Cám đi theo hướng Cám bắt chước giội nước sôi rồi chết này, thậm chí có bản như Myanma, Cám chẳng hề nghe Tấm nói mà chỉ là nghe theo 1 bà hàng nước bá vơ nào đó rồi làm theo và chết. Những bản khác thì Cám và Tấm rủ nhau đi tắm trắng, hoặc Cám nghe Tấm kể rồi tự tắm 1 mình. Câu hỏi đặt ra là “ ai lại có thể nghĩ ra chuyện 1 người hý hửng tin vào chiêu tắm trắng bằng nước sôi?”. Câu hỏi này tưởng khó trả lời, ai ngờ thật dễ: Đơn giản vì đã có 1 thời nhân loại chứ chẳng chỉ Đông Nam Á có 1 niềm tin thần bí vào chiêu hồi sinh nhờ than và nước nóng. Ở New Ghine, Victoria, Melanedi,… vẫn còn lưu lại tàn tích niềm tin “ chết vì nước sôi rồi tái sinh” này. Ở 1 số vùng, người tham dự lễ phải nằm xuống để người ta rắc than hồng nóng lên, hoặc bò qua 1 ngôi nhà dài hẹp đang có người tưới nước sôi từ trên xuống. Medea lừng danh Fate/Stay night, trong truyền thuyết cũng từng hồi sinh 1 con dê bằng cách băm vằm nó rồi ném vào nồi nước sôi. Như vậy, chi tiết Cám tin tưởng rồi bắt chước đi tắm trắng bằng nước sôi, hay chuyện Tấm may mắn ngã vào hố nước sôi hay bị giết bằng nước sôi mà hồi sinh là 1 niềm tin cổ đại, vô cùng logic đối với người xưa. ( Còn ai ngày nay muốn thử xem có hồi sinh thật không thì… mời.)

Tại sao lại là làm mắm và mẹ ăn con? Nếu vừa trên tôi đã giải thích nền tảng cảm hứng của cái ending “ chị em sinh đôi, Cám bắt chước tắm nước sôi và chết” thì chi tiết “ Cám bị vua/thần/ kiếm làm mắm và mẹ Cám ăn nhầm” bên mô tip dì ghẻ con chồng lại chịu ảnh hưởng từ 1 motip truyện cổ tích khác cực kỳ na ná. Đó là motip phù thủy ăn nhầm thịt con cũng nổi tiếng ko kém mà ta hay nghe nhất là “ Căn nhà bánh ngọt”, “ Chú Bé Tí Hon”. Hãy để ý kỹ, trong những truyện kiểu “ nhà bánh ngọt” cũng có đề cập tới vấn đề cha mẹ trong gia đình. “ Dù ghẻ ôm đứa con riêng của chồng vào bỏ trong rừng.”, đó là cái mở đầu của những truyện kiểu này. Vô tình, nó hao hao cái OP “dì ghẻ” của motip Tro Bếp. Như trên đã nói, trong thế giới cổ tích, những thứ hao hao nhau thì rất dễ bị trộn vào nhau. Còn ở đây, loại motip câu chuyện “ mụ phù thủy ăn nhầm thịt con” và motip Tấm Cám “ dì ghẻ con chồng với cái ending mẹ ăn nhầm con” lại giống nhau đến kỳ lạ. Ta điểm sơ:

Tấm Cám “ dì ghẻ”:
- Ý( đảo Sicile): Cenerentola ( vua giết và làm mắm cô con gái, gửi mụ dì ghẻ. Khi mụ ăn, con mèo nói: “ cho tôi chút gì tôi khóc giúp cho”. Mụ đuổi mèo đi. Sau khi ăn gần hết mắm, mụ phát hiện ra sự thật, chết. Mèo lại kêu “ mụ không cho tôi gì cả, tôi chẳng khóc giúp đâu.”)
- VN ( Vũ Ngọc Phan): “ Tấm ( đáng lẽ là ai đó ngoài Tấm) làm mắm gửi mụ dì ghẻ. Khi mụ ăn, con quạ đậu gần đó kêu “ ngon ngỏn ngòn ngon, mẹ ăn thịt con, có còn xin miếng”. Mụ nổi giận đuổi quạ đi. Sau khi ăn gần hết mắm, mụ phát hiện sự thật, chết.

Mụ phù thủy ăn thịt nhầm con:
- Chú bé tí hon ( Pháp): vợ chồng nghèo bỏ rơi 7 đứa con trong rừng. Chúng lạc vào nhà mụ yêu tinh có 7 đứa con gái đều ăn thịt người. Tí hon là em út trong 7 đứa con bị bỏ rơi, thông minh nhất, đã lừa tráo 7 cái mũ của 7 anh em lên đầu 7 đứa con gái đang ngủ rồi cùng nhau bỏ trốn. Trong đêm tối, mụ dì ghẻ giết nhầm những đứa con mình mà không biết.
- truyện của người Berberes ( Châu Phi): 1 đứa trẻ bị mụ chằn bắt ăn thịt, bị đứa trẻ lừa giết con gái mụ thay thế. Mụ ăn thịt con mà ko biết. Khi ăn, một con mèo bảo “ Thịt ấy có mùi sữa bà đấy!”. Mụ nổi giận đánh đuổi con mèo.
-truyện cổ Bắc Âu ghi 1 câu chuyện tương tự: 1 đứa trẻ bị mụ phù thủy bắt được, đã giết tráo đứa con gái mụ để thay thế. Mụ phù thủy không biết, cứ đinh ninh múc súp bày cho cả nhà ăn, cho con mèo một phần. Mèo nói: “ Nhổ đị, mẹ chồng ăn thịt nàng dâu.”
….

Như trên, ta đã thấy sự tương đồng giữa motip truyện “ mụ phù thủy ăn nhầm con” và những bản Tấm Cám thuộc motip “ dì ghẻ con chồng”. Sự khác nhau giữa cái OP và Ending hầu như ko lớn. Chỉ là ở Tấm Cám “ dì ghẻ con chồng”, thường là 1 ai đó trừ nhân vật chính đứng ra làm việc đó, trong khi trong “ mụ phù thủy ăn nhầm con” thường đó là chính nhân vật chính.

Sự khác biệt ko lớn này đã bắt đầu gây ra hệ quả hòa trộn vào nhau. Bằng chứng qua không ít phiên bản đã thể hiện sự giao thoa vô tình giữa 2 motip vốn dễ bị xem là na ná nhau này khi mẹ con Cám được mô tả là “ mụ yêu tinh mê hoặc cha Tấm, chuyên ăn thịt người”/ “mụ vợ kế là phù thủy ăn thịt người” ( VD như truyện Ú Thêm của Thái) hay tương tự với truyện của người Iceland. Rõ ràng nhất của chi tiết giao thoa này là câu chuyện nổi tiếng Bạch Tuyết với motip giống như nằm giữa “ Tấm Cám: dì ghẻ con chồng” và “ mụ phù thủy ăn nhầm con”. Chính sự na ná này cuối cùng đã khiến Vũ Ngọc Phan vô tình mắm muối thêm cho bản Tấm Cám 1886 của G.Jeanneau theo hướng motip truyện “ mụ phù thủy ăn nhầm con”, khi ông chuyển luôn nhiệm vụ làm mắm biếu dì ghẻ thẳng cho nhân vật chính. Thậm chí vụ con quạ kêu rồi bị đuổi đánh cũng na ná đến trùng khớp những cái ending “ phù thủy ăn con”.

Mâu thuẫn chủ đạo của Tấm Cám, chị em hay dì ghẻ con chồng ? Thật thảm hại là 90% người được hỏi sẽ trả lời là “dì ghẻ” nhưng thực tế là ko phải vậy. Trừ đi số lượng những bản khá lớn theo motip “ chị em sinh đôi” thì những bản theo motip “dì ghẻ” cũng đều nên lên sự chủ động rất nhiều của Cám. Cám bảo mẹ ngăn Tấm đi hội, Cám bảo mẹ cấm Tấm thử giày, Cám bảo mẹ chặt cau giết Tấm, Cám làm thịt chim, chặt xoan, đốt khung cửi. Thậm chí nhiều ending theo motip dì ghẻ ghi sự ngoan cố đến mức liều chết của Cám lên đến cực điểm. VD bản của Myanma, Hoàng hậu giả vẫn ngoan cố phủ nhận tội ác, đòi mang cả kiếm thần ra xử và chỉ bị giết khi kiếm thần tự phóng tới băm Cám ra như bùn. Như vậy, Đặc điểm cơ bản của Tấm Cám là mâu thuẫn chị em, trong khi đặc điểm của “ Mụ phù thủy ăn nhầm con” thường mâu thuẫn phải là “ mụ dì ghẻ/ phù thủy – đứa con sắp bị ăn thịt.”.
Những sự na ná quá nhiều thế này đã tạo ra thảm cảnh truyện Tấm Cám với cái ending bị ghép ( chỉ 1 cái ending thôi) năm 1886, qua tay các nhà phục chế như Vũ Ngọc Phan, nó được thêm đủ thứ mắm tôm từ bao nhiêu motip na ná Tấm Cám, tạo ra cái phiên bản Tấm Cám bị error độc nhất vô nhị, nơi nhân vật chính có hành động giống như đang phát triển tính cách. Và đó là tất cả căn nguyên của bao nhiêu buổi hội thảo chửi nhau um sùm từ gần 50 năm nay. Có một số người như Phan Hải Triều đã nêu luận cứ nghi vấn “ có 1 sự chắp nối khiên cưỡng, pha trộn yếu tố ngoại lai” trong truyện Tấm Cám mà ta biết hiện nay ( bản Vũ Ngọc Phan). Ông ta đã nói đúng 1 phần dù thực tế không có bằng chứng gì, chỉ thuần đổ cho nước ngoài trong khi khẳng định “ người VN hiền thế sao mà thế được”. Sự thật, truyện Tấm Cám của Vũ Ngọc Phan trở thành như thế là kế quả do pha trộn nhiều chi tiết từ các motip không phải Tấm Cám, lại thêm sự cắt bỏ những chi tiết quan trọng trong bản 1886 mà người thu thập cứ tưởng là motip thừa ( VD như chẳng hiểu gì về tín ngưỡng hồi sinh nhờ nước nóng hay sự nhấn mạnh mâu thuẫn chị em ruột, cứ sợ “ bạo lực”, “ đoạn này 2 đứa rủ nhau đi tắm sao mà giả giả quá” rồi thêm mắm bỏ muối khiến cho nó vốn chẳng bạo mấy, giờ chính thức trở thành “horror”.). Đó là lỗi của người thu thập và biên tập vậy.

Tổng hợp từ:
- bài viết của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh.
- Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám ( Phó giáo sư Chu Xuân Diên. Tạp chi Văn Hóa Dân Gian số 2/ 1999)
-Truyện Tấm Cám và sự đánh tráo số phận con người ( Nguyễn Tấn Đắc).

——-

Sau khi trình bày xong toàn bộ origin và nguyên nhân xuất hiện từng chi tiết từ nước sôi đến mắm cá lóc và “dì ghẻ” hay “chị em ruột”. Có lẽ nhiều người đọc vẫn thấy rối. Vấn đề thực ra rất dễ hiểu nhưng giải thích thì nó rất lòng vòng. Điều đó là đương nhiên, bởi Tấm Cám của Vũ Ngọc Phan ra như thế vì ông đã vô tình trộn nó vào 1 đống rối bùi nhùi. Ngay cả khi tôi cố tổng hợp phân tích ra nguyên nhân vì sao chỉ có 1 bản của Vũ Ngọc Phan có chi tiết trả thù bởi nhân vật chính vốn ko thể nào xuất hiện trong truyện cổ, hay vì sao cái end lại dần dần bị biến tấu, lai ghép như thế, chắc chắn có nhiều người vẫn còn ráng lý sự.

“ Biết đâu truyện Tấm Cám của VN là cá biệt nằm ngoài những suy luận đó?”. Ờ, vậy giải thích thế nào về những bản gốc 1886 mang toàn mấy nét nằm trong vòng suy luận ấy?

“ Đó là ý của cậu, còn độc giả có quyền cảm nghĩ theo những cách riêng.”. Ờ, đó là quyền tự do thôi. Nhưng cảm nghĩ luôn phải dựa trên 1 cái nền gì đó có ý nghĩa nhất định. Tôi vừa chứng minh cái truyện Tấm Cám này là 1 bản bị “trộn” error hoàn toàn chỉ do vô tình bị ảnh hưởng từ các motip khác và ko hiểu ý nghĩa motip truyện Tấm Cám căn bản. Nếu có ai vẫn cố dựa trên cái ko ý nghĩa để suy ra “ ý truyện TC nói rằng con người ai cũng có 2 mặt” thì tôi cũng chẳng biết nói gì. Như Picasso đã nói cái đó là đồ tô màu nhưng những người ko biết mà ko cần biết vẫn tuyên bố đó là 1 “bức tranh tuyệt tác giàu ý nghĩa” thì đó là quyền của họ. Nói cho cùng, suy diễn lung tung là quyền của thiên hạ mà. Ko có nó mấy cái Topic ” Tấm Cám” biết lấy gì mà nói ngoại trừ ” I am the Troll.”?

Nếu ai bảo tôi giờ phải làm sao với cái bản error, tôi nghĩ chỉ có 1 phương pháp là viết lại nó theo đúng motip cơ bản:
- Nếu theo motip “dì ghẻ con chồng” thì ending là Cám bị cái gì đó ngoài Tấm giết, làm mắm gửi mẹ. Đơn giản hơn thì cứ ” 2 mẹ con sợ bị trách tội, bỏ chạy vào rừng” làm tráng miệng cho cọp beo như bản Campuchia.
- Nếu theo motip “chị em sinh đôi” thì cứ như bản của người Thái. Cám hỏi, Tấm thật thà trả lời, 2 người rủ nhau đi tắm trắng, Cám chết. Không đá động gì bà mẹ.

Và 1 điều đáng sợ là việc Tấm Cám bị phá hỏng thành bản error mà ta biết hiện nay sẽ chỉ là bước dạo đầu. Tình trạng này đang tiếp tục tiếp diễn với những câu chuyện khác như Thạch Sanh, Sơn Tinh, … khi mà tầng lớp thanh niên hiện nay ngày càng xem xét truyện cổ tích dưới con mắt và logic của truyện hiện đại. Gần đây, 1 số người mới ” phát hiện ra 1 chuyện động trời” là … Thánh Gióng là con 1 … gia đình quý tộc họ Đàm, dựa theo 1 cái văn bia quái quỷ gì đó hồi thời Hậu Lê. Thảm họa ” viết lại, chỉnh sửa lại” truyện cổ tích sẽ chỉ mới bắt đầu ( sửa tốt thì nói làm gì, sửa mà càng sửa càng kinh dị như bác Vũ Ngọc Phan mới đáng sợ). Tấm Cám chỉ mới là nạn nhân đầu tiên.

Hết.


Khó khăn lắm mới kiếm được đủ bộ Nghìn lẻ một đêm mà tới giờ mới thu xếp để bắt đầu đọc được. Bộ này thì khỏi nói, không chỉ nhiều truyện mà còn cấu trúc theo kiểu truyện trong truyện nên phải kiên nhẫn. Nói chung cứ từ từ mà đọc, không phải vội.

Mấy ngày ốm, nằm nhà không có gì làm, đã nghiền xong chùm truyện “Năm thiếu phụ và ba khất sĩ”. Đọc xong mà cứ tức anh ách.

–      Cái thằng ngược đãi và chiếm tài sản của vợ, ban đầu nghe vua tuyên bố hùng hồn lắm, tưởng rồi sẽ xử nó ra trò. Thế nào đến lúc biết là thái tử, gọi đến khuyên giải vài câu, chú kia nhận lại vợ, xong. Chả thấy chửi câu nào chứ đừng nói phạt

–      2 con mẹ chị của Zobeit ác độc là thế, đang tâm giết cả người em đã hai lần cưu mang mình lẫn hôn phu của nàng chỉ vì ghen tức, cuối cùng lại được biến từ chó thành người, còn được cưới chồng, rồi sống vinh hoa phú quý. Kể ra thì cũng đã phải biến thành chó, mỗi đêm phải chịu 100 roi cũng là nặng, nhưng so với cái ác tâm kia thì quả là khó mà tha thứ được.

–      Ba chú khất sĩ, một chú thì mất nước, một chú thì lưu lạc mà vua cha không biết ra sao, một chú đã lên ngôi rồi cũng gặp bao biến cố mà chưa trở về quê hương được. Cuối cùng lại an hưởng ở cái nhà được vua Harun An-Rasit phong cho. Ồ! Chú mất nước không còn hy vọng phục quốc thì cũng phải nghĩ mà báo thù cho cha, cho bác; chú hoàng tử lưu lạc thì cũng phải lo cho vua cha; còn cái chú đã lên ngôi thì cũng nên nghĩ đến đất nước của mình chứ ? Mà hai chú nào chấp nhận lấy 2 bà chị của Zobeit kể cũng gan thật. Nghĩ lại thấy hết sức kính phục!

–      Cuối cùng có vua Harun An-Rasit là lợi nhất. Đi đến nhà người ta, hứa rồi không giữ lời, lại còn lấy quyền ra mà uy hiếp, bắt người ta phải kể cho mình. Trị con thì không nghiêm. Kể ra chồng của Amin không phải là thái tử khéo bị chém bay đầu rồi ấy chứ, có đâu được gọi đến giải thích mà nhận lại vợ. Cuối cùng lại lấy được cô vợ vừa trẻ vừa đẹp. Sướng thật, sướng nhất luôn!


Đã khá lâu tôi ít chú ý đến các sách của Kim Đồng. Một phần vì mình không còn ở độ tuổi mà sách của Kim Đồng nhắm đến, phần khác vì không thích cách biên tập của NXB này. Do vậy tôi biết đến cuốn sách qua một cái duyên khác. Bạn tôi chính là dịch giả cuốn Krabat và cối xay phù thủy này. Được anh giới thiệu về cuốn sách từ khi bắt đầu dịch, quyết định sẽ mua một bản, vừa là ủng hộ bạn, đồng thời cũng tin vào sự lựa chọn và khả năng chuyển ngữ của anh.

Ấn tượng đầu tiên về cuốn sách khá tốt, dù sao cũng là sách có bản quyền hẳn hoi. Bìa in nhũ bóng loáng, tên sách dập nổi trông bắt mắt. Giấy sách dầy, màu trắng ngà. Chữ in bằng thứ font dễ đọc, không quá cầu kỳ nhưng vẫn đẹp. Riêng về mặt hình thức có thể nói đây là cuốn sách làm cẩn thận, chi tiết, chứng tỏ sự đầu tư công sức của những người thực hiện. Cầm một cuốn sách như vậy ai chẳng muốn đọc.

Tất nhiên, một cuốn sách hay không phải ở cái bìa. Cái khiến người ta giữ nó trên giá sách hay cho ra hàng sách cũ là ở nội dung. Về mặt này, cuốn sách hoàn toàn xứng đáng với những giải thưởng người ta đã trao cho nó.

Một vài thông tin trên bìa cho ta biết tác giả đã mất 10 năm để hoàn thành cuốn sách. Với một thời gian dài như vậy, hẳn mọi người sẽ mong chờ một câu chuyện hoành tráng nhưng không kém phần chi tiết với các tuyến nhân vật đan xen nhau một cách phức tạp. Và người ta tự hỏi, làm thế nào tác giả có thể thực hiện được điều này trong một cuốn sách dày chưa đến 300 trang? Bất cứ ai nghĩ vậy hẳn sẽ thất vọng. Đơn giản, đó là từ chính xác nhất có thể mô tả về Krabat và cối xay phù thủy. Cá nhân tôi, khi đọc sách, cảm thấy như đang đọc một câu chuyện dân gian. Hầu hết các truyện cổ dân gian mà tôi biết đều khá đơn giản, xây dựng trên những tình huống trực tiếp và không đòi hỏi tính logic cao. Chẳng hạn, một con quỷ trong không cần phải có nguồn gốc rõ ràng. Nó chỉ đơn giản là ở đó, gây ra tai họa và cần phải diệt trừ. Những vị thần sẽ giúp đỡ nhân vật chính thường vì những lý do hết sức chung chung như nghèo mà tốt, giúp đỡ người khác…, những điều mà đa phần người tốt đều sẽ làm…Krabat và cối xay phù thủy được viết theo cách như vậy. Chẳng ai biết về nguốn gốc cái cối xay và lão thợ cả, cũng chẳng ai hiểu rõ vì sao lại có cái cam kết hiến mỗi giao thừa một mạng người của lão thợ cả và Đức cha. Mà có lẽ đơn giản nhất là tình yêu của Krabat và cô lĩnh xướng. Họ chưa bao giờ nói chuyện một lần nào, ấy vậy mà Krabat đem lòng yêu cô chỉ nhờ nghe giọng hát, để rồi khi cậu thổ lộ, cô cũng đáp lại như thể trước kia đã biết rõ cậu vậy. Tình yêu ấy tưởng như hời hợt, nhưng nó mạnh đến nỗi cô lĩnh xướng sẵn sàng liều mạng để đem lại tự do cho Krabat. Nó khiến cô nhận ra cậu dù đang bịt mặt, bởi cô cảm nhận được sư lo lắng Krabat dành cho cô. Tình yêu của hai người đã đem lại tự do cho không chỉ Krabat mà tất cả những người thợ phụ trong cối xay phù thủy. Phải, trước đó Krabat và Juro Tồ đã tập luyện rất nhiều phép thuật để chống lại lão thợ cả, nhưng rốt cuộc, chẳng cần đến một phép thuật gì, cô lĩnh xướng cũng đã làm giải phóng cho Krabat. Có nhiều người cảm thấy hụt hẫng khi câu chuyện kết thúc, vì rốt cuộc bao nhiêu sự chuẩn bị của Krabat là thừa, nhưng tôi thì không. Cách kết này chẳng phải là cách đẹp nhất sao ? Vượt trên tất cả, tình yêu chẳng phải chính là phép thuật mầu nhiệm nhất sao?

Đọc Krabat và cối xay phù thủy đem lại sự dễ chịu mà lâu lắm rồi tôi mới tìm được. Không phải ghi nhớ về hàng đống thông tin, về những mối quan hệ chồng chéo phức tạp. Nó giống như một cuộc dạo chơi bằng thuyền, cảnh vật xung quanh từ từ trôi qua trước mắt, còn người xem cứ việc chậm rãi mà hưởng thụ tất cả.


Truyện hài, cũng giống các thể loại khác, luôn mang chút đặc tính dân tộc nào đó của tác giả câu chuyện. Vì thế truyện hài của các nước đều khác nhau. Mình thích nhất là hài kiểu Pháp và hài kiểu Mỹ. Hài kiểu Pháp nhẹ nhàng, thâm thúy, thường mang tính châm biếm, nói cách khác là kiểu hài bác học, khá giống tính cách dân Pháp, lãng mạn, ít thực tế và nhiều lý thuyết. Hài kiểu Mỹ lại trực tiếp, có gì đó hơi thô thiển, đúng kiểu của một dân tộc thực tế, bận rộn. So sánh thì mình thích kiểu Pháp hơn, một phần vì nhẹ nhàng, tinh tế hơn, và phần nữa là vì đọc vài lần vẫn cười được, còn kiểu hài kia thì chỉ 2,3 lần là thấy bình thường rồi. Nói theo tiếng Anh thì hài kiểu Pháp là humour, còn hài kiểu Mỹ là comedy vậy. Tất nhiên ở đây chỉ xin nói về đa số, chứ chắc chắn không phải tất cả. Ai dám bảo nhẹ nhàng, tinh tế là đặc quyền của người Pháp, còn thô thiển chỉ có mình người Mỹ chứ?

Đọc qua đoạn mở đầu này, chắc ai cũng nghĩ mình sẽ làm một bài viết phân tích kỹ lưỡng về hai kiểu hài. Đáng tiếc là trình độ của mình chưa đến mức ấy. Vốn không muốn viết đoạn mở đầu như vậy vì nó qua to tát so với những gì tiếp theo, nhưng vì là cảm hứng nên vẫn giữ nguyên không bỏ. Bây giờ mới xin phép đi vào mục đích chính của bài viết lần này, sơ qua cảm nhận về hai series truyện hài của Mỹ dành cho thiếu nhi do Nhã Nam phát hành gần đây là Junie B.Jones và Nhật ký Ngốc xít. Truyện của Pháp xin phép để vào lúc khác.

Đầu tiên là Junie B.Jones. Trời ạ! Cứ nhắc đến cô bé mẫu giáo này là lại tiếc số tiền đã bỏ ra mua 2 tập truyện về. Công tâm mà nói thì series này có nhiều truyện khá, nhưng mình ghét cái cách cô bé hét toáng lên với tất cả mọi người. Có nhiều cách để biến mình thành trung tâm vũ trụ, nhưng làm người khác chú ý bằng cách cố nói thật to thì quả là một lựa chọn tồi. Chính vì thế mặc dù mình chỉ cố gắng đọc xong được cuốn đầu là đành cho truyện vào danh sách cần thanh lý mà không đủ kiên nhẫn đọc tiếp tập 2. Đôi lúc tự hỏi có phải mình cổ hủ, khó tính không, nhưng suy cho cùng thì chọn sách để đọc là do ý thích cá nhân, sao lại phải nghĩ ngợi về chuyện người khác thích mà mình thì ghét chứ.

Tiếp đến là Nhật ký ngốc xít. Cuốn này thuộc dạng bất khả xâm phạm vì hai đặc điểm quan trọng của nó:

Một là, nó do superman mua tặng. Vì thế dù hay hay dở, dù muốn hay không thì vẫn cứ phải giữ sách lại (thực ra nếu muốn thì chắc cũng có cách để thuyết phục thôi).

Hai là, sách có chữ ký của dịch giả đề tặng đích danh mình. Giới chơi sách từ xưa đến giờ ngoài việc cố kiếm các bản cổ, bản hiếm ra, còn cái thú sưu tập bản có chữ ký, thủ bút của tác giả, dịch giả…cuốn sách. Vậy kể ra thì cuốn này cũng có thể coi là quý được rồi (Nói thêm về chuyện này một chút. Cá nhân mình cho rằng trừ những người quá khó tính ra, còn thì ai chẳng muốn người ta ghi nhận giá trị những tác phẩm của mình, bất kể là sáng tác hay dịch. Vì thế việc xin chữ ký, thủ bút có thể coi là đôi bên cũng có lợi, tác giả thì cảm thấy mình được công nhận, còn người mua sách lại có một bản đặc biệt). Quan trọng hơn, chữ ký này là do chính Superman xin cho mình. Đây là vấn đề chính khiến cho việc xử lý cuốn sách trở nên khó hơn thường lệ.

May mắn thay, Nhật ký Ngốc xít lại thuộc dạng những cuốn sách dễ được quyết định số phận. Cũng là nói về một cô bé, nhưng là học cấp II chứ không phải mẫu giáo như Junie B.Jones. Có lẽ vì thế nên cách gây cười của Nhật ký Ngốc xít tuy thô nhưng không quá mức như Junie, thậm chí truyện khá dễ thương khi xây dựng nhân vật chính nhẹ nhàng, hơi tự ti, cũng đầy những thắc mắc, suy nghĩ ngớ ngẩn, cũng thích những người đẹp trai, sống trong gia đình có vẻ quái dị với một ông bố thật thà, một bà mẹ nấu ăn dở khủng khiếp và một con chó săn thỏ quái dị. Đọc Nhật ký Ngốc xít có cảm giác dễ chịu, thoải mái hơn đọc Junie B.Jones, mặc dù trong ấy cũng đủ cả hỉ nộ ái ố (kiểu trẻ con). Mình đọc trong thời gian khá ngắn, ngắn hơn hẳn so với Junie B. Vui nhất là ông anh đọc xong thì thằng em cũng muốn đọc, kể ra cũng phải, nhồi mãi các thứ nặng nề vào đầu thì phải có gì đó nhẹ nhàng, vui vẻ trong lúc nghỉ ngơi giữa chừng chứ. Xem thế thì vai trò của truyện hài cũng không thể xem nhẹ được!


Sau thời gian chờ đợi khá lâu, cuối cùng cuốn sách tiếp theo của Harlan Coben – Người hùng trở lại (tựa gốc làPromise me) – đã xuất bản. Thật khó mà mô tả cảm xúc của tôi khi nhìn thấy cuốn sách, một chút thỏa mãn, một chút hoan hỉ, một chút hồi hộp. Suy nghĩ duy nhất của tôi lúc ấy là phải sở hữu một cuốn ngay lập tức.

Từ trước đến nay, ngoài Conan Doyle, chưa có một nhà văn viết truyện trinh thám nào khiến tôi như vậy, nhưng ấn tượng từ hai cuốn Đừng nói một ai và Người vô tội đủ để khiến Harlan Coben trở thành người thứ hai làm được điều này. Với cuốn sách mới nhất, vẫn là lối dẫn chuyện hấp dẫn, lôi cuốn, vẫn là một câu chuyện đầy sự bí ẩn và bất ngờ đến trang cuối cùng, Người hùng trở lại không làm tôi thất vọng.

Lần này, Harlan Coben đưa người đọc theo chân nhân vật chính trên đường tìm kiếm một cô gái mất tích. Con đường ấy kết nối những người tưởng như chẳng lien quan gì đến nhau vào mối quan hệ chằng chịt, đi vào ngõ ngách ảm đạm trong tâm hồn những kẻ tưởng chừng hạnh phúc nhất, phơi bày những sự thật đau lòng. Từ từ, cái xã hội đẹp đẽ ấy bị bóc trần từng mảng, để lộ ra sự tối tăm, tuyệt vọng của nó.

Nhưng chẳng lẽ lại như vậy, chẳng lẽ không thể cứu vãn gì nữa ? Không, những gì giả tạo cần phải gột sạch để lộ ra bộ mặt thật, nhưng đó đâu phải tất cả. Vẫn còn nhiều những mảng màu tươi sáng, ấm áp khác rải rác đây đó trong bức tranh toàn cảnh. Ở đó, niềm tin vẫn còn, nhờ vào đó, con người vẫn đang sống và tiến về phía trước.

Một cuốn truyện tuyệt vời, xét ở cả khía cạnh trinh thám lẫn nhân văn của nó. Nói những lời sáo rỗng sẽ chỉ làm giảm hứng thú với cuốn sách mà thôi. Bạn hãy đọc và có cảm nhận của riêng mình. Nếu bạn có thể dứt khỏi cuốn sách giữa chừng thì bạn quả là đáng khâm phục. Riêng tôi, tôi buộc phải đọc xong nó trước khi có thể toàn tâm toàn trí làm việc khác được. 


Đóng sách, có lẽ bản thân nó cũng không hẳn là một nghề. Tôi không thể tìm nổi thông tin về một hiệu đóng sách lâu đời nào trên mạng. Biển hiệu đóng sổ sách tràn ngập khắp nơi, nhưng có vào mới biết, các hiệu ấy đa số chỉ nhận đóng luận văn. Còn sách cũ thì chào thua. Phải qua một người bạn tôi mới biết tới cửa hiệu Tân Dân, nơi đạt đủ yêu cầu của tôi: làm cẩn thận, đẹp, và có thâm niên. Mặc dù cũng phải đi đến 2 lần mới gửi được sách, nhưng quả là không uổng công. Sách đóng xong vuông vắn, cứng cáp, chỉ thua sách mới ở mỗi điểm giấy đen, chữ mờ hơn. Cầm quyển sách trong tay mà thấy nôn nao khó tả. Có điều lấy được sách xong thì lại nghe được vài mẩu chuyện không đầu cũng chẳng cuối. Chắp nối lại chợt thấy ngậm ngùi.

Bác gái nhận đóng sách thay đổi nhiều quá. Gần 10 năm trước bác còn tư vấn cho khách các loại giấy, loại bìa, cái nào đi với cái nào, cái nào bền, cái nào đẹp…Giờ cái gì cũng đắt đỏ, tiền công không thể tăng quá cao, bác cũng không thích nhận sách cũ. Đóng luận văn, đóng sổ cho các cơ quan nhanh hơn, dễ hơn nhiều. Tỉ mẩn bên mấy quyển sách cũ khâu khâu vá vá quả chẳng phải là lựa chọn tốt. Ấy là chưa kể vì vài cuốn sách cũ mà phải đi tìm màu decal cho hợp với sách, quá là mất công.

Chỉ có cô thứ 3, người trực tiếp đóng những cuốn sách cho tôi là vẫn còn nhiệt tình. Lần đầu tôi đi đóng sách, sốt ruột, cứ 3-4 ngày lại đảo qua một lần. Cô biết thế nên vẫn động viên cho vui chứ không lấy đó làm phiền. Lúc đem sách mẫu ra, cô tần ngần sờ vào dòng chữ mạ mà bảo: Chữ này đúng là của bố cô rồi. Từ lúc ông cụ mất, không còn ai mạ chữ đẹp và cẩn thận nữa. Con trai cụ giờ cũng ít động vào, toàn để cho đám thợ cẩu thả làm. Bây giờ người ta cũng không mạ tay nữa, mạ vi tính nhanh hơn, dễ hơn nhiều, bột mạ là vàng hóa học, làm gì còn bột vàng thật. Thế nên chữ mạ bây giờ vừa xấu, vừa nhanh hỏng. So 2 cuốn sách mạ bây giờ và ngày trước, thấy khác hẳn.

Cô mượn cuốn sách mẫu của tôi cho đám thợ mạ xem mà biết đường. Dù đồng ý, nhưng trong long chẳng mấy tin tưởng. Nếu người ta có ý thức tất đã chẳng làm ẩu đến thế. Mà việc gì phải cẩn thận cho một thứ cũ kỹ xấu xí nhỉ ? Việc gì phải cẩn thận cho một thứ vốn chỉ thuộc về tinh thần là chính ?

Cứ nghĩ lại thấy buồn. Theo nhịp tiến của thời đại, có nhiều thứ bị mai một dần đi, muốn níu lấy mà chẳng thể nào giữ nổi. Sách của tôi, dẫu có nhiều thì cũng sẽ đến lúc chẳng còn để mà đóng. Phong trào chơi sách cũng xuống rồi, liệu còn được bao nhiêu người như tôi, ngày nào cũng lung sục trong các hiệu sách, hít đủ thứ bụi, chỉ để tìm được một tập giấy đen xỉn chữ mờ mờ mà lấy làm vui mừng. Người chơi sách càng ít thì người đóng sách càng hiếm. Trông vào đám bọn tôi, e rằng chẳng đủ mà trang trải.

Đôi khi có những việc muốn mà chẳng thể nào thay đổi….


Đối với tôi, một kẻ tự xem mình thuộc giới trí thức, sách luôn là một thứ không thể thiếu. Chính vì thế, việc đi săn các bộ sách có giá trị từ lâu đã trở thành một niềm vui thích. Cứ tưởng tượng xem, bạn lăn lộn từ đầu này tới đầu kia thành phố (Hà Nội cũ thôi nhé, tôi chưa bao giờ đi vào Hà Nội 2 đủ sâu và đủ nhiều để dám nói là mình có biết qua nơi ấy), lê la từ hang này qua hang nọ. Ở mỗi nơi, bạn lại phải lao vào một rừng sách cũ kỹ rách nát, hít đủ thứ mùi ẩm mốc, mắt mũi kèm nhèm vì bụi bặm lâu ngày đôi khi chỉ để tìm ra một bản sách hiếm để thỏa mãn cái ý thích sưu tập của mình, hay thậm chí đơn giản hơn, chỉ để sở hữu và được đọc cuốn sách mình tâm đắc. Cái công việc ấy có khác nào đi tìm cổ vật cho đời sau bạn hay thấy trêm phim ảnh đâu? Ấy thế mà sự đời nhiều lúc oái oăm, tốn công nhưng chắc gì đã được của. Lúc ấy thật là nản biết bao. Tiếc cho công mình bỏ ra thì ít, mà xót vì sách đang nằm ở nơi đâu, có khi lại rơi vào tay người không biết giá trị để rồi bị hư hỏng thì nhiều.

Chà, mào đầu một đoạn dài rõ xúc động, chỉ vì tìm được đủ một bộ sách mà mình yêu thích, kể ra cũng không phải phép cho lắm. Tuy vậy, Thám tử Sherlọck Holmes quả là một bộ đặc biệt, khiến tôi không thể không tuôn ra một tràng dài dằng dặc như vậy.

Tôi tin rằng chắc chắn bạn, người đang đọc những dòng này, biết Sherlock Holmes là ai. Tôi nghe về Holmes từ khi còn rất nhỏ, hồi cấp I hoặc đầu cấp II gì đó. Vì sao nghe được thì chẳng thế nhớ lại nổi nữa. Chỉ biết rằng đến lớp 6, mong ước của tôi là có một bộ Sherlock Holmes đẩy đủ để mà đọc. Tất nhiên mong ước vẫn chỉ là mong ước, vì tôi chưa từng thấy một bộ nào cả, mà thấy thì cũng chẳng mua được. Vậy nên cái mong ước ấy quả là quá mơ hồ, mà có lẽ tôi cũng chẳng bao giờ nghĩ rằng nó sẽ biến thành sự thật, cho đến một ngày…

Cuối tuần, bố mẹ đưa tôi lên Tràng Tiền chơi. Lúc ấy Tràng Tiền quả là thiên đường đáng mơ ước với cơ man là hiệu sách lớn, nhất là khi phải vài tháng bạn mới lên đó một lần. Tôi bắt gặp cuốn Sherlock Holmes đầu tiên trong đời ở một hiệu sách nhỏ, giờ là hiệu sách Ngoại Văn, ấy là tập 9 của bộ Thám tử Sherlock Holmes toàn tập, có tên Cung đàn sau cuối. Khỏi phải nói, lúc ấy toàn than tôi chợt run rẩy, vừa sung sướng vì điều tưởng chừng chẳng bao giờ có thật lại hiện ra trước mặt, vừa lo vì chắc gì đã được mua. Có lẽ lúc ấy trông tôi tội nghiệp thế nào đó mà cuốn sách cuối cùng lại theo về và nằm trên giá sách của nhà. Có lẽ không cần phải tả lại tôi đã háo hức ra sao, hồi hộp thế nào khi sờ vào cuốn sách, lật những trang đầu tiên để quay trở về nước Anh thế kỷ 19 mà chứng kiến trò chơi của những khối óc giữa Holmes, với sự trợ giúp của Watson, và đám tội phạm khôn ngoan, thủ đoạn. Cả học kì ấy tôi đọc đi đọc lại cuốn sách, đắm chìm trong thế giới tưởng tượng ấy, đến mức không chỉ thuộc cốt truyện mà còn thuộc long cả đoạn quảng cáo cuối sách.

Do sự tình cờ nào đó, một đứa học cùng lớp biết tôi rất thích Holmes, và nó lại đang có vài tập muốn bán. Vậy là đủ các kiểu tiết kiệm được đề ra để có thể tậu bằng hết những tập ấy về, nào là nhịn ăn, học them thì gửi xe ở trường rồi đi bộ đến nơi để khỏi mất tiền…Lúc ấy chẳng hề cảm thấy khổ ải gì hết, chỉ cốt sao có sách là vui rồi.

Đến năm lớp 7, lại là sự tình cờ, trong một lần đến nhà đứa bạn mượn vở chợt bắt gặp đủ bộ Sherlock Holmes ở đây. Có điều lần này kém may mắn hơn, ông bạn nhất quyết không bán mà chỉ cho mượn. Cũng chẳng sao, cứ có mà đọc đã. Thế là chủ nhật hàng tuần học đội tuyển xong lại lóc cóc đạp xe sang nhà nó mà mượn, đến chủ nhật tuần sau phải đem trả rồi mới được mượn tập mới. Sách mượn, nhiều lúc muốn tra lại chỗ quên cũng đành chịu. Thế là nảy ra ý tưởng chép tay từng tập một. Cũng kỳ công ngồi cắt giấy ô ly của học sinh cho bằng đúng với khổ truyện, dùng chỉ khâu lại rồi mới chép. Học đội tuyển (tôi nằm trong đội tuyển Toán của trường từ lớp 6), vẫn phải hoàn thành bài trên lớp, giờ lại thêm việc chép tay cả cuốn truyện chỉ trong 1 tuần. Mặc dù sách không dày nhưng đa số vẫn phải trả khi chưa chép xong. Đúng là vất vả mà chẳng nên cơm cháo gì. Cũng chỉ biết tự an ủi thôi thì ít ra cũng đã đọc trọn vẹn cả bộ, hy vọng lớn lên sẽ làm ra tiền mà mua.

Sau này, đến năm lớp 9, NXB Văn Nghệ tái bản trọn bộ, in thành 2 tập với giá 98.000đ. Giải pháp để dánh lại được nghĩ tới, nhưng để dành đến bao giờ, khi mà mỗi lần chỉ là 500đ nhỏ nhoi? Khi đã chấp nhận bỏ cuộc thì dip sinh nhật năm ấy, tôi lại được bác tặng cho cả bộ này. Đáng tiếc thay chưa kịp vui mừng thì đã lại méo mặt khi tôi phát hiện ra bản in lần này bị thiếu một chi tiết rất quan trọng, khiến một truyện ngắn trở nên hết sức vô nghĩa(1). Và thật đáng tiếc là hầu hết bản in về sau của các nhà xuất bản khác nhau đều thiếu chi tiết này, khiến tôi không thể vừa lòng với bất kỳ bản nào, và lại càng quyết tâm tìm lại cho đủ bản của Văn nghệ khi xưa.

Gần đây, tôi có quen một người bạn trong Sài Gòn chuyên buôn bán sách cũ. Tôi đã nhớ người này tìm hộ được rất nhiều sách hiếm, mà bộ Nghìn lẻ một đêm đã giới thiệu là một ví dụ. Sau Nghìn lẻ một đêm, tôi tiếp tục nhờ bạn tìm hộ đủ bộ Sherlock Holmes. Vấn đề ở chỗ sách không phải quá cũ, lại in khổ nhỏ, và nhất là giới chơi sách không đánh giá cao nên khó tìm hơn rất nhiều. May sao, lang thang khắp Sài Gòn, bạn tôi đã cóp nhặt được gần đủ bộ, chỉ thiếu mỗi tập 2. Dù bản than rất sốt ruột, nhưng không có cách nào khác ngoài việc chờ đợi. Đi mua đồ cũ là vậy, tìm thì chưa chắc đã thấy, mà hết hy vọng thì tự nhiên lại gặp, quả là khó lường. Cái sự khó lường ấy lại thể hiện vào chiều nay, khi tôi cùng một người bạn lang thang qua mấy hiệu sách cũ ở ngoại ô. Bước chân vào một hiệu sách nhỏ, không có gì đáng chú ý, tôi quay ra trong khi bạn vẫn đang lúi húi tìm kiếm trong số sách mới. Chợt người bạn chỉ cho mấy cuốn Sherlock Holmes buộc thành chồng ở một góc, mừng quýnh lên, vì đã thoáng thấy số 2 ở một gáy một cuốn. Quả nhiên trời không phụ người, cuối cùng tôi đã có thể thở phào nhẹ nhõm vì tìm ra cuốn còn thiếu trong bộ của mình. Cũng gặp một chút khó khăn, vì người bán hàng nhất quyết không bán lẻ, sau bạn tôi quyết tâm mua luôn cả số còn lại mới được. Cũng may là số tiền phải bỏ ra cũng không quá lớn…Vậy là sau hơn mười năm tìm kiếm, cuối cùng tôi đã có được bộ sách mong ước từ thửơ nhỏ. Mặc dù đây vẫn chưa phải là bản đầy đủ nhất (2), nhưng những chỗ thiếu có thể giải quyết rất đơn giản, nhất là tôi còn dự tính mua thêm cả bộ bằng tiếng Anh nữa. Tất nhiên, đó chỉ là dự tính, nên mặc dù chắc chắn nó sẽ thành hiện thực, nhưng sự khẩn thiết thì có lẽ không còn nữa.

_______________________

(1) Đó là hình vẽ các bức mật mã trong truyện ngắn Những hình nhân nhảy múa. Không có những hình vẽ này thì chắc chắn chẳng ai hiểu các nhân vật đang nói cái gì. Trong số tất cả những bản in Sherlock Holmes bằng tiếng Việt mà tôi biết, chỉ có bản do NXB Văn Nghệ phát hành là có các hình vẽ này, các bản còn lại đều không có. Gần đây tôi được bạn cho biết có một bản khác gồm 2 tập cũng có đầy đủ các hình vẽ. Đáng tiếc là người này lại không thể cung cấp thêm thông tin gì về bản in đó.

(2) Trong chương đầu tiên của tiểu thuyết Truy tìm dấu bộ tứ, Holmes đã chích morphin để tìm sự thoải mái cho đầu óc khi phải ăn không ngồi rồi. Chỉ một bản in cũ là có chương này, các bản in về sau đều cắt cả, có lẽ do kiểm duyệt, hoặc sợ bị những độc giả bảo thủ phản đối.


Trang chủ | Ảnh | Bài viết | Về tôi | Login

© 2012 NNSon.com - Xin ghi rõ nguồn khi phát hành lại thông tin.